- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đình H; Bùi Đức S tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Đình H, bị cáo Bùi Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2023/HSST Ngày: 15 – 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
2. Bà Lương Thị Thu An
-Thư ký phiên toà: ông Hồ Phương Tâm – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2023 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2023/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2023/HSST-QĐ ngày 10/02/2023 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Võ Đình H, giới tính: Nam;
- Tên gọi khác: Không
- Sinh ngày 22 tháng 06 năm 1997, tại Nghệ An
- Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
- Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 241643378 cấp ngày 22/01/2015 nơi cấp CA tỉnh Đăk Lăk;
- Thường trú và chỗ ở: Tổ 6, khu phố 5, phường Minh T, thị xã C, tỉnh P;
- Con ông: Võ Đình S, sinh năm 1965
- Con bà: Phạm Thị H, sinh năm: 1969
- Vợ: H-Dơng N, sinh năm 2002
- Con: 01 người sinh năm 2022
- Anh, chị, em ruột: 04 người lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995;
- Tiền án, tiền sự: Không
- Ngày 02/10/2022 có hành “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị bắt quả tang và tạm giữ. Ngày 10/10/2022, bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Chơn Thành cho đến nay.
2. Họ và tên: Bùi Đức S; Giới tính: Nam.
- Tên gọị khác: Không.
- Sinh ngày 22 tháng 02 năm 1992; tại: Nghệ An.
- Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
- Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12;
- Nghề nghiệp: kinh doanh,
- Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 040092025421, cấp ngày 09 tháng 8 năm 2022; Nơi cấp: Cục C06 – BCA.
- Nơi thường trú: Ô 3, Lô A, khu phố 1A, phường An Phú, TP. Thuận An, tỉnh Bình Dương
- Chỗ ở: Tổ 9, khu phố Trung Lợi, phường Hưng L, thị xã C, tỉnh P;
- Con ông: Bùi Đức Th, sinh năm 1958
- Con bà: Ngân Thị L, sinh năm: 1964
- Vợ, con: Chưa có;
- Anh, chị, em ruột: 05 người lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1994;
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Ngày 02/10/2022, có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 10/10/2022, bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Hưng Long, thị xã C, tỉnh P cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Võ Đình S, sinh năm: 1965, địa chỉ cư trú: tổ 6, khu phố 5, thị xã C, tỉnh P. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Đình H và Bùi Đức S là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Cả hai cùng làm công trình cho anh Bùi Đức Ấn, sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ 9, khu phố Trung Lợi, phường Hưng Long, thị xã C, tỉnh P.
Quá trình làm việc tại công trình, thông qua việc nói chuyện thì S và H quen biết nhau, đồng thời S biết H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên nảy sinh ý định nhờ H mua dùm ma túy (heroin) để cất giữ sử dụng. Khoảng gần 12 giờ trưa ngày 01/10/2022, sau khi làm xong tại công trình thì H ra lấy xe mô tô để về nhà tại phường Minh Thành, thị xã Chơn Thành. Lúc này, S lấy số tiền 1.200.000đ bỏ vào túi quần của H. Khi S bỏ tiền vào túi thì H và S biết rõ việc S nhờ H mua ma túy, tuy nhiên tại nhà anh Ấn còn nhiều người làm nên S sợ anh Ấn biết (do gia đình đang cho S tự cai nghiện tại nhà) nên cả hai không trao đổi gì thêm. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi H đang ở nhà thì S mượn điện thoại của Bùi Nhật Tân, sinh năm 1996, chỗ ở: Tổ 9, khu phố Trung Lợi, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước (là người làm công trình cùng S) nhắn tin qua Zalo nhờ H mua 1.000.000đ ma túy (heroin), đồng thời S hứa cho H số tiền 500.000đ để uống nước thì H đồng ý. Lúc này, H điều khiển xe mô tô biển số 47P1 – 272.89 một mình đến địa điểm mà đối tượng tên Minh (chưa rõ nhân thân) thường bán ma túy ở phường Minh Thành, thị xã Chơn Thành để mua ma túy. Khi đến, H đứng bên ngoài thì gặp Minh, H hỏi Minh “Còn ma túy không? bán 1.000.000đ heroin và 500.000đ ma túy đá” thì Minh đồng ý. Lúc này, H đưa số tiền 1.500.000đ mua ma túy cho Minh, Minh cầm tiền và đi ra phía sau (không xác định được vị trí) lấy 01 gói nylon hàn kín, kích thước 01cm x 3,6cm bên trong có chứa ma túy đá và 01 đoạn ống hút màu xanh, hàn kín hai đầu, kích thước 0,8cm x 3cm bên trong có chứa heroin ra giao cho H. Mua được ma túy, H bỏ đoạn ống hút chứa heroin vào vỏ bao thuốc lá hiệu Caraven và cất vào túi quần nhằm mục đích đưa cho S để cùng sử dụng; còn gói ma túy đá thì H cất vào hộc ba ga xe nhằm mục đích sử dụng cho cá nhân.
Sáng ngày 02/10/2022, do có nhu cầu muốn sử dụng ma túy nhưng chưa thấy H đến công trình nên S tiếp tục mượn máy điện thoại của Tân nhắn tin qua Zalo hỏi H “mua được ma túy chưa?” khi H trả lời “rồi” thì S nhắn tin kêu H cầm vào công trình cho S, đồng thời sợ anh Ấn phát hiện nên S kêu H xóa hết tin nhắn. Nhắn tin xong, S xóa hết tin nhắn trong máy điện thoại và trả cho Tân. Phát hiện việc S nhắn tin nhờ H mua ma túy, gia đình S đã báo tin cho cơ quan Công an để xử lý theo quy định. Khoảng 9 giờ cùng ngày, H mang theo số ma túy nói trên từ nhà ở phường Minh Thành đến công trình của anh Ấn làm việc và giao ma túy Heroin cho S, khi H vừa điều khiển xe mô tô biển số 47P1 - 272.89 đến công trình thì Công an phường Hưng Long và cơ quan CSĐT Công an thị xã Chơn Thành tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan điều tra phát hiện và bắt quả tang khi H đang cất giữ đoạn ống hút chứa heroin trong túi quần và 01 gói nylon chứa ma túy đá trong hộc ba ga xe. Làm việc, H khai nhận số ma túy trên là H mua dùm cho S (heroin) để cùng sử dụng, còn ma túy đá là H mua, cất giữ nhằm mục đích sử dụng riêng cho cá nhân khi có nhu cầu. Cơ quan CSĐT thị xã Chơn Thành lập biên bản thu giữ, niêm phong số ma túy.
Đối với Bùi Đức S: khi phát hiện H bị kiểm tra bắt giữ, S đã trốn ra khu vực lô cao su ở gần nhà. Tuy nhiên, được sự vận động của gia đình anh Bùi Đức Ấn (anh trai S) và cơ quan điều tra nên sau đó S đã trình diện và được gia đình đưa đến cơ quan điều tra làm việc. Quá trình điều tra, S khai báo toàn bộ hành vi đưa tiền nhờ H mua ma túy (heroin) như trên.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang BL 01-02, lời khai bị can Võ Đình H BL01-65, lời khai bị can Bùi Đức S BL 70-71, 74-77)
Kết luận giám định số: 228/KL(MT)-KTHS ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định:
Thanh nén (viên nén) chất rắn màu trắng chứa trong đoạn ống hút được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1174gam.
Tinh thể màu trắng có trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,3213 gam (BL48).
Việc thu giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng:
- Thu giữ 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,1679 gam Methamphetamine và 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0854 gam Heroin (là mẫu vật H lại sau giám định), 01 vỏ bao thuốc lá H sử dụng để cất giữ ma túy.
- Tạm giữ 01 (một) ĐTDĐ hiệu Relme, màu xanh đen, màn hình cảm ứng có số sim 0972232638 là phương tiện mà Võ Đình H sử dụng liên lạc trong quá trình thực hiện tội phạm (liên lạc mua ma túy cho Bùi Đức S).
- Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu sơn đen – cam, biển số 47P1 – 272-89, số khung RLSDL11ANLV137512, số máy CGA1-537420.
- Tạm giữ số tiền 366.000 đồng là tài sản của Võ Đình H.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS, ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố Võ Đình H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Bùi Đức S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ nguyên Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Đình H, bị cáo Bùi Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm i, khoản 1, điều 249, điểm s khoản1, 2 Điều 51, các điều 17, 38,50, 58 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Võ Đình H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c, khoảng 1, điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các điều 17, 38,50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Bùi Đức S mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án theo qui định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 02/10/2022 tại tổ 9, khu phố Trung Lợi, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Võ Đình H có hành vi mua 0,3213 gam ma túy đá (Methamphetamine) và 0,1174 gam Heroin cất giữ nhằm mục đích sử dụng trái phép đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định Điều 249 - Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 1; khoản 3, Điều 3; điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ – CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tỷ lệ phần trăm của Methamphetamine và Heroin được tính như sau:
Tại điểm g khoản 2 Điều 249 quy định khối lượng tối thiểu của Metamphetamine và Heroin là 05gam, như vậy với khối lượng 0,3213gam Methamphetamine (0,3213gam so với 05gam) có tỷ lệ phần trăm là 6,42%; khối lượng 0,1174 gam Heroin (0,1174 gam so với 05gam) có tỷ lệ phần trăm là 2,34%.
Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine và Heroin là 8,76%. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 5 - Nghị định số 19/2018/NĐ – CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ (tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng 02 chất ma túy dưới 100%) nên hành vi của Võ Đình H phạm vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bùi Đức S có hành vi nhờ H mua 0,1174 gam ma túy (heroin) nhằm mục đích cất giữ sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hành vi của Võ Đình H, Bùi Đức S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Cáo trạng số 85/CT-VKS, ngày 29/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nói trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a. .......................................... ;
c. .....................Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
............................................... ;
i. có ít nhất 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của các bị cáo Toàn, S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý để phục vụ trong y học, là loại chất gây nghiện nặng làm hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự địa phương, vi phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn trong đó, H trực tiếp mua ma túy đá và Heroin cất giữ để sử dụng; bị cáo S là người khởi xướng, không những đưa tiền nhờ H mua ma túy (Heroin) để cất giữ, sử dụng, mà còn trả công mua ma túy cho H; nên hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Võ Đình H, Bùi Đức S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Võ Đình H, Bùi Đức S không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ phân tích trên, cần xử phạt hai bị cáo mức án nghiêm khắc, cách li bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian ở mức khởi điểm như đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa.
Về vật chứng: Cần tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,1679 gam Methamphetamine và 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0854 gam Heroin (là mẫu vật H lại sau giám định), 01 vỏ bao thuốc lá H sử dụng để cất giữ ma túy.
- Đối với 01 (một) ĐTDĐ hiệu Relme, màu xanh đen, màn hình cảm ứng có số sim 0972232638 là phương tiện mà Võ Đình H sử dụng liên lạc trong quá trình thực hiện tội phạm (liên lạc mua ma túy cho Bùi Đức S) cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu sơn đen – cam, biển số 47P1 – 272-89, số khung RLSDL11ANLV137512, số máy CGA1-537420. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô này do ông Võ Đình S (bố ruột của H) mua để làm phương tiện đi lại cho gia đình nhưng do tuổi cao nên để Võ Đình H đứng tên, việc H sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì ông Sơn không biết nên cầu trả lại cho ông Võ Đình S.
- Đối với số tiền 366.000 đồng là tài sản của Võ Đình H, không liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả cho bị cáo H, do bị cáo phải chịu nghĩa vụ án phí nên khấu trừ theo qui định chung.
Trong vụ án có đối tượng tên Nguyễn Văn Minh là người bán ma túy cho Võ Đình H. Tuy nhiên, quá trình điều tra cho đến nay chưa làm việc được với Minh do Minh đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra, khi đủ cơ sở xử lý theo quy định.
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Võ Đình H, bị cáo Bùi Đức S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Võ Đình H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/10/2022 .
2.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Đức S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,1679 gam Methamphetamine và 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0854 gam Heroin (là mẫu vật H lại sau giám định), 01 vỏ bao thuốc lá H sử dụng để cất giữ ma túy.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ hiệu Relme, màu xanh đen, màn hình cảm ứng có số sim 0972232638 của Võ Đình H.
Trả lại cho ông Võ Đình S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu sơn đen – cam, biển số 47P1 – 272-89, số khung RLSDL11ANLV137512, số máy CGA1-5374205.
Trả lại cho bị cáo Võ Đình H số tiền 366.000 đồng, tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKSND tỉnh Bình Phước - VKSND thị xã Chơn Thành; - CCTHADS thị xã Chơn Thành; - CA thị xã Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Loan |