vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58/BLHS( đối với K);

* Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58/BLHS (đối với L); * Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy K (tên gọi khác: K mốc), Trương Văn L phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58/BLHS( đối với K);
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:23/2023/HS- ST
Ngày 15- 6 -2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sáu

Bà Phùng Thị Mai Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Liên - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:15/2023/TLST- HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:15/2023/QĐXXST-HS ngày 31/5/2023 và thông báo về thời gian, địa điểm mởi lại phiên tòa số:01/TB-TA ngày 07/6/2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Duy KTên gọi khác: Khánh Mốc; Sinh ngày: 24 tháng 3 năm 1993 Nơi ĐKNKTT: khu phố 2, phường L, thị xã B, tỉnh T.Chỗ ở hiện nay: SN 48, Lê Thánh Tông, thôn 5, xã Quang T, thị xã B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn P; Con bà: Trần Thị C; Vợ: Nguyễn Thị L (đi xuất khẩu lao động); Con: Nguyễn Duy T, sinh năm 2016; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/7/2019, bị Công an huyện N, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”. Hình thức: Phạt tiền (2.500.000 đồng), đã chấp hành xong; Ngày 13/5/2021, bị Công an thị xã B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau. Hình thức: Phạt tiền (750.000 đồng), đã chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Y, tỉnh T (có mặt).

2. Trƣơng Văn L; Sinh ngày: 26 tháng 6 năm 2003; Nơi ĐKNKTT: Thôn 3, xã Q, thị xã B, tỉnh T; Chỗ ở hiện nay: SN 48, Lê Thánh T, Thôn 5, xã Quang T, thị xã B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Con ông: Trương Văn T; Con bà: Đặng Thị B; Vợ, con: chưa; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Y, tỉnh T(có mặt).

* Những ngƣời làm chứng:

1. Trần Văn C, sinh năm 1989

Trú quán: Khu phố 2, phường L, thị xã B, tỉnh Th

2. Bùi Đình T, sinh năm 1959

Trú quán: Thôn 4, xã Q, thị xã B, tỉnh T

3. Lục Văn N, sinh năm 1994

Trú quán: Thôn Chảy Kế, xã Thiết Kế, huyện B, tỉnh T

4. Nguyễn Quốc H, sinh năm 1996

Trú quán: Khu phố 10, phường N, thị xã B, tỉnh Th

5. Nguyễn Văn T, sinh năm 1996

Trú quán: Thôn Tri Thiện 3, xã N, huyện N, tỉnh T.

6. Dương Thị Trang N, sinh năm 1995

Trú quán: Khu dân cư Bê Tống, KCN Bắc T, huyện Đ, H.

( Những người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/01/2023, Tổ công tác Công an thị xã B đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường 7, thuộc Thôn 6, xã Quang T, thị xã B, tỉnh T phát hiện 01 xe ôtô 05 chỗ của hãng taxi Mai Linh biển kiểm soát 36A- 405.80 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, Tổ công tác yêu cầu dừng xe để kiểm tra thấy trong trong xe có 02 người thanh niên gồm: người ngồi ở vị trí ghế lái là Trần Văn C và người ngồi ghế phụ phía trước là Nguyễn Duy K. Tổ công tác tiến hành kiểm tra bên trong xe taxi phát hiện tại vị trí ngăn để đồ giữa ghế lái và ghế phụ có 01 hộp giấy có nhiều màu, chữ, kích thước khoảng (4 x 4 x 11) cm bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7 x 10) cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt dạng cục. Tại chỗ Khánh khai nhận túi nilon màu trắng nêu trên là ma túy loại Ketamin của Khánh vừa mua với giá 35.000.000đ của một người đàn ông tại ngõ 221, Tôn Đ, Quận Đ, thành phố H mục đích để bán lại kiếm lời, còn Trần Văn Chung là lái xe được Khánh thuê không biết việc Khánh đi mua ma túy và cất ma túy vào ngăn để đổ. Tổ công tác mời người làm chứng, người chứng kiến và đưa Trần văn C, Nguyễn Duy K cùng tang vật thu giữ về trụ sở Công an xã Qaung Trung, thị xã Bỉm Sơn lập biên bản phạm pháp quả tang theo quy định của pháp luật.

* Tài sản và vật chứng thu giữ gồm:

- 01 xe ô tô 05 chỗ chỗ của hãng taxi Mai Linh biển kiểm soát 36A- 405.80 do Trần Văn Chung là lái xe;

- 01 hộp giấy có nhiều màu, chữ, kích thước khoảng (4x4x11) cm bên trong chứa 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7x10) cm bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt dạng cục;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh nhạt, số IMEI 356560108413074, bên trong có 01 sim số 0365.588.585 đã qua sử dụng của Nguyễn Duy Khánh;

Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật và tài sản của Nguyễn Duy Khánh tại 02 nơi sau:

Tại nơi Khánh thê trọ số nhà 48, Lê Thánh Tông, Thôn 5, xã Quang T, thị xã B, tỉnh T thu giữ:

- 02 (hai) viên nén hình ngũ giác cạnh, góc, kích thước không đồng đều màu nâu, trên mặt dập nổi hình đầu lâu, được phát hiện thu giữ bên trong khối gỗ hình tròn đường kính khoảng 10cm đặt trên nóc tủ nhựa quần áo màu xanh tại vị trí phía cuối phòng khách. Theo Trương Văn L đối tượng sống cùng phòng trọ với K khai nhận 02 (hai) viên nén nêu trên là ma túy dạng kẹo (MDMA) của Khánh cất dấu trước đó;

- 01(một) cân điện tử đã qua sử dụng màu đen bạc, trên cân có dãn nhãn ký hiệu 200g/0,01g-QC.PASS, kèm theo 02 (hai) viên pin hình tròn, đường kính khoảng 1,5 cm, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen số IMEI: 356170094828663, bên trong có sim thuê bao số: 0333.860.266, đã qua sử dụng. của Trương Văn L.

Tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú khu phố 2, phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa kết quả: không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 27/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định trưng cầu giám định số 10/QĐ-CSĐT, giám định chất ma túy đối với tang vật thu giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 538/KL-KTHS ngày 31/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:

- Các hạt tinh thể trong suốt dạng cục của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 49,623g (bốn chín phẩy sáu hai ba gam) loại: Ketamine.

- 02 viên nén hình ngũ giác, cạnh góc kích thước không đồng đều, màu nâu trên mặt dập nổi hình đầu lâu của phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,966g (không phẩy chín sáu sáu gam) loại MDMA.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Duy K khai nhận: Khoảng 22 giờ, ngày 26/01/2023 K gọi điện thoại cho một người nam giới có số điện thoại 0916.803.555 (K lưu trong danh bạ điện thoại là “Hà Nội 1”) để hỏi mua ma túy về bán. Người nam giới nghe điện thoại và hỏi K “có, lấy nhiều không”, K trả lời “02 (hai) uốn”, người nam giới đồng ý và nói giá tiền là 35.000.000 đồng, K đồng ý và hẹn anh ta đi lấy ma túy ngay trong đêm. Sau đó, K gọi điện cho Trần Văn C là lái xe taxi hãng Mai Linh, gần nhà K và nói chở K đi Hà Nội có việc. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Chung điều khiển xe taxi Mai Linh, BKS 36A 405.80 đến đón K ở nhà trọ tại số nhà 48 Lê Thánh Tông, Thôn 5, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn. Khi xe ôtô chở K đến điểm hẹn tại ngõ 221, Tôn Đức Thắng, Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, K bảo C đợi ở ngoài còn K xuống xe đi bộ một mình vào trong ngõ khuất cách chỗ dừng xe khoảng 100m thì thấy 02 (hai) người nam giới đứng ở hai bên đường. Một người nháy điện thoại, Khánh thấy đúng số của người bán ma túy nên lại gần đưa số tiền 35.000.000 đồng, anh ta nhận tiền rồi chỉ tay sang hướng người còn lại. K lại gần thì người nam giới nói cái hộp ở chân cây cột điện đồng thời chỉ tay theo hướng cây cột điện cách đó khoảng 01 mét. K lại lấy hộp giấy và mở ra xem thì thấy có một túi nilon màu trắng bên trong túi có các hạt tinh thể màu trắng dạng cục. Sau đó, K cất ma túy vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi ra xe taxi của C để về Bỉm Sơn, Thanh Hóa. Trên đường về, C dừng xe tại trạm dừng nghỉ trên cao tốc xã Tiên Hiệp, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam và xuống xe đổ xăng, mua nước uống. Lợi dụng lúc C không có ở trên xe, K đã cất giấu hộp giấy đựng ma túy vào ngăn chứa đồ ở giữa ghế lái và ghế phụ. Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/01/2023, về đến đoạn đường 7, thuộc thôn 6, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra Nguyễn Duy K và Trương Văn L khai nhận đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy. K là người trực tiếp đưa ma túy cho Trương Văn L, (là nhân viên phục vụ quán hát cho K) trực tiếp đi giao ma túy cho khách, mỗi tháng K trả thêm cho L từ 2.000.000đ đến 3.000.000đ để tiêu sài cá nhân, bản thân L biết đó là ma túy nhưng vì để được hưởng lợi nên L vẫn làm. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Tối ngày 16/12/2023, Lục Văn N gọi điện thoại cho Nguyễn Duy K để hỏi mua nửa chỉ ma túy dạng Ketamine, và hẹn K mang đến quán Karaoke Tuấn Anh 1, thuộc khu phố 10, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, K đồng ý và lấy ma túy đưa cho L đi giao cho Nhất tại quán karaoke Tuấn Anh 1. Khi đến nơi N chuyển khoản số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản Ngân hàng VietcomBank của N đến số tài khoản 0333.860.266 Ngân hàng VPBank của Trương Văn L, sau khi chuyển tiền thì L đưa ma túy cho N rồi đi rút tiền mang về phòng trọ đưa cho K.

Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 18/12/2022, Nguyễn Quốc H (H Triệu) gọi điện cho Nguyễn Duy K hỏi mua 01(một) chỉ Ketamine và 03(ba) viên ma túy tổng hợp (Kẹo). K báo giá 3.000.000 đồng/01(một) chỉ Ketamine và 900.000 đồng/ 03(ba) viên ma túy tổng hợp. Hội đồng ý và hỏi số tài khoản của K. Sau đó, Nguyễn Quốc H chuyển khoản số tiền 3.900.000 đồng qua tài khoản ngân hàng VietinBank của Nguyễn Duy K. K lấy 01(một) chỉ ma túy Ketamine đựng trong túi bóng màu trắng loại nhỏ và 03(ba) viên ma túy tổng hợp bỏ vào túi bóng màu trắng loại lớn hơn và bọc giấy ở bên ngoài rồi đưa cho Trương Văn Luân. Luân cầm lấy ma túy rồi đi đến đoạn gác chắn tàu thuộc phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn đưa cho Nguyễn Quốc H.

Lần thứ ba: Ngày 29/12/2022, Lục Văn Nhất gọi điện thoại cho Trương Văn L để nhờ L mua giúp 02 (hai) viên ma túy dạng kẹo, L trao đổi lại với Nguyễn Duy K thì K đưa cho L 02(hai) viên ma túy dạng kẹo. Sau đó, L mang ma túy giao cho N tại quán karaoke Tuấn Anh 1 thuộc khu phố 10, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn. Tại đây, N chuyển khoản cho L số tiền 800.000đ, L đưa cho N hai viên ma túy dạng kẹo rồi đi về.

Lần thứ tư: Khoảng 23 giờ ngày 23/01/2023, Nguyễn Văn T gọi điện thoại cho K qua ứng dụng Facebook (Nick FB là Trung Bếch) hỏi mua 01 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo, Khánh báo giá 350.000 đồng/01(một) viên, T đồng ý. K bỏ ma túy vào vỏ bao thuốc lá rồi đưa cho L kèm theo số điện thoại 0862792678 của T cho L liên lạc giao ma túy. Sau đó, L một mình điều khiển xe mô tô (L không nhớ là mượn xe của ai, không nhớ đặc điểm xe, biển số xe là gì) mang ma túy đến khu vực cầu Tống Giang thuộc thôn 4, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa giao cho Nguyễn Văn T và nhận số tiền 350.000đ (ba trăm năm mươi nghìn đồng) mang về cho K.

Ngoài ra, K và L còn khai nhận vào khoảng tháng 01 năm 2023, K đưa ma túy cho L đi giao cho Phạm Văn B, sinh năm 1975, trú tại: xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, tạm trú tại: khu phố 5, phường Đông Sơn, thị xã Bỉm Sơn tại gần quán Internet 5 tầng thuộc phường Lam Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Tuy nhiên, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra B không thừa nhận việc mua ma túy của K. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng B vẫn khẳng định không mua ma túy. Việc K và B trực tiếp trao đổi mua bán ma túy không có ai biết, không có ai chứng kiến. Còn L là người đi giao ma túy tại địa chỉ như trên nhưng L không biết là giao cho ai. Tiến hành cho nhận dạng, L cũng không biết B là ai. Do đó, không đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với K, L về lần bán trái phép chất ma túy này. Đối với B, kết quả xét nghiệm ma túy ngày 21/3/2023, Phạm Văn B âm tính với ma túy nên không có căn cứ xem xét, xử lý đối với B.

* Về nguồn gốc ma túy:

- Nguyễn Duy K khai nhận số ma túy dạng Ketamine bị lực lượng Công an thu giữ khi bắt quả tang là K mua của một người nam giới không quen biết, tại ngõ 221 phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, TP. Hà Nội với số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng). Qua tra cứu thông tin thuê bao tại Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam - Vinaphone, chủ thuê bao số 0916.803.555 là Huỳnh Thái Cường, sinh ngày 09/09/1991, trú tại: 79 Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, địa chỉ thanh toán: 24 Nguyễn Vịnh, thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Xác minh tại Công an phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, đối tượng Huỳnh Thái Cường, thuộc diện quản lý của Công an phường, tuy nhiên đối tượng hiện không có mặt tại địa phương, đối tượng đi đâu, làm gì không ai biết. Xác minh tại Công an phường Hàng Bột, không xác định được đối tượng mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực Ngõ 221 phố Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, TP. Hà Nội, không có hệ thống camera an ninh tại khu vực này.

- Đối với 02 viên ma túy dạng MDMA lực lượng Công an thu giữ tại phòng trọ của Nguyễn Duy K tại số nhà 48 Lê Thánh Tông, thôn 5, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, K khai nhận đó là ma túy của K mua của một người nam giới không quen biết tại ngã tư Trôi, thuộc thị trấn Hoài Đức, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội trong thời gian khoảng tháng 08 đến tháng 10 năm 2022, khi mua ma túy chỉ có K và người này biết ngoài ra không có ai khác biết hoặc nhìn thấy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội, kết quả: không xác định được đối tượng có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực ngã tư Trôi, thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 năm 2022, hệ thống camera an ninh không lưu trữ dữ liệu trong thời gian trên.

* Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa và các kỹ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến; Trần Thị Thúy Hằng, Lê Ngọc Liên; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh nhạt, đã qua sử dụng, số IMEI 356560108413074, bên trong có 01 sim số 0365.588.585 của Nguyễn Duy Khánh; 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356170094828663, bên trong có sim thuê bao số: 0333.860.266 của Trương Văn Luân; 01 cân điện tử màu đen bạc, trên cân có dán nhãn ký hiệu 200g/0,01g- QC.PASS, đã qua sử dụng và 02 viên pin hình tròn, đường kính khoảng 1,5cm chuyển nhập kho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn chờ xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số:21/CT-VKSBS ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Duy K, Trương Văn L về tội " Mua bán trái phép chất ma túy", trong đó Khánh bị truy tố theo điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, Luân bị truy tố theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58/BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 09( chín) năm đến 09( chín) năm, 06( sáu) tháng tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17,Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2, Điều 58/BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Trương Văn L từ 07( bảy) năm, 03(ba) tháng đến 07( bảy) năm, 06(sáu) tháng tháng tù về tội " Mua bán trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh Tiến, Lê Ngọc Liên và Trần Thị Thúy Hằng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa; 02 viên pin tròn đường kính khoảng 1.5cm.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu xanh nhạt, đã qua sử dụng, số IMEI 356560108413074, bên trong có 01 sim số 0365.588.585 của Nguyễn Duy K; 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356170094828663, bên trong có sim thuê bao số: 0333.860.266 của Trương Văn Luân; 01 Cân điện tử màu bạc, trên cân có dán nhãn ký hiệu 200g/0.01g-QC.PASS đã qua sử dụng; Số tiền 6.550.000đ (trong đó: thu của K 4.550.000đ, thu của L 2.000.000đ )

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Duy K, Trương Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 03 giờ 30 phút ngày 27/01/2023, tại khu vực đường 7, thuộc thôn 6, Xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã Bỉm Sơn làm nhiệm vụ, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Duy K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng trọng lượng là 49,623g loại: Ketamine và 0,966g loại MDMA nhằm mục đích bán trái phép cho người khác, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.

Ngoài ra, trước đó K cùng với Trương Văn L đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Tối ngày 16/12/2023, Khánh bán cho Lục Văn N nửa chỉ ma túy dạng Ketaminevới giá 1.500.000đ. Trương Văn L là người trực tiếp đi giao ma túy cho N tại tại quán karaoke Tuấn Anh 1 thuộc khu phố 10, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn.

Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 18/12/2022, K bán cho Nguyễn Quốc H (Hội Triệu) sinh năm 1996, nhà ở khu phố 10, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa 01(một) chỉ Ketamine và 03(ba) viên ma túy tổng hợp (Kẹo) với giá 3.000.000 đồng/01(một) chỉ Ketamine và 900.000 đồng/ 03(ba) viên ma túy tổng hợp. Trương Văn Luân là người trực tiếp đến đoạn gác chắn tàu thuộc phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn giao ma túy cho Nguyễn Quốc H.

Lần thứ ba: Ngày 29/12/2022, K bán cho Lục Văn N 02 (hai) viên ma túy dạng kẹovới giá 800.000 đồng. L là người mang ma túy giao cho N tại quán karaoke Tuấn Anh 1 thuộc khu phố 10, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Lần thứ tư: Khoảng 23 giờ ngày 23/01/2023, Khánh bán cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1996, trú tại xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa 01 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo với giá 350.000 đồng/01(một) viên. L là người mang ma túy đến khu vực cầu Tống Giang thuộc thôn 4, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa giao cho Nguyễn Văn T.

Hành vi của bị cáo các bị cáo K, L đã đủ yếu tố cấu thành tội " Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định và xử lý theo điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự( đối với K), theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự( đối với Luân).

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây hậu quả rất nguy hiểm cho xã hội. Bởi ma túy là một loại chất gây nghiện, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, nòi giống, nhân cách, đạo đức và lối sống của con người. Ma túy chính là nguồn gốc để các loại tội phạm khác phát triển. Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy và pháp luật quy định xử lý rất nghiêm minh đối với loại tội phạm này. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét vai trò của các bị cáo HĐXX thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ rõ ràng và không có thỏa thuận về ăn chia hay tiền công cụ thể. Trong đó, Nguyễn Duy K là người khởi xướng, trực tiếp liên hệ khách hàng và thỏa thuận giá cả, số lượng ma túy, trực tiếp mua ma túy và giao cho Luân đi đưa cho khách nên K có vai trò đầu vụ, cao hơn L. Trương Văn L biết K bán ma túy nhưng vì hám lợi nên L vẫn giúp Khánh đi giao ma túy cho khách, vì vậy Trương Văn L có vai trò đồng phạm giúp sức tích cực và có vai trò sau K. Nên khi lượng hình cần cân nhắc mức hình phạt K cao hơn L là phù hợp.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

- Tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng đối với Luân gia đình đã tự nguyện giao nộp số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn (là tiền công do Khánh trả cho L) nên L được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng khoản 5 Điều 251/BLHS để phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh Tiến, Lê Ngọc Liên và Trần Thị Thúy Hằng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa;

+ 02 viên pin tròn đường kính khoảng 1.5cm.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 điện thoại di động Iphone màu xanh nhạt, đã qua sử dụng, số IMEI 356560108413074, bên trong có 01 sim số 0365.588.585 của Nguyễn Duy Khánh;

+ 01 điện thoại di động Iphone, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356170094828663, bên trong có sim thuê bao số: 0333.860.266 của Trương Văn L;

+ 01 Cân điện tử màu bạc, trên cân có dán nhãn ký hiệu 200g/0.01g-QC.PASS đã qua sử dụng.

+ Số tiền 6.550.000đ (trong đó tịch thu của Khánh 4.550.000đ, thu của Luân 2.000.000đ) là tiền do phạm tội mà có.

Hành vi của Trần Văn C, Lục Văn N, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Văn T, Ninh Thái Sang:

- Đối với Trần Văn C: Ngày 26/01/2023, Khánh gọi điện thoại thuê C chở đi Hà Nội có việc. Khánh không nói và bản thân C cũng không hỏi, không biết được mục đích của Khánh đi Hà Nội để làm gì do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Trần Văn C.

- Đối với Lục Văn N: Ngày 16/12/2022 và ngày 29/12/2022, Lục Văn N mua ma túy của Nguyễn Duy K, được Trương Văn L đi giao tại quán Karaoke Tuấn Anh 1 thuộc khu phố 10, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, sau đó sử dụng luôn tại quán karaoke Tuấn Anh 1. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ngày 18/3/2023 thì N dương tính với ma túy tổng hợp nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Lục Văn N về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, phạt tiền 1.500.000 đồng.

- Đối với Nguyễn Quốc H: Ngày 18/12/2022, Nguyễn Quốc H mua ma túy của Nguyễn Duy K, được Trương Văn L đi giao tại khu vực gác chắn tàu thuộc phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, sau đó mang về nhà sử dụng một mình. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ngày 27/01/2023, thì Hội dương tính với ma túy tổng hợp nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Nguyễn Quốc H về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, phạt tiền 1.500.000 đồng.

- Đối với Nguyễn Văn T: Ngày 23/01/2023, Nguyễn Văn T mua ma túy của Nguyễn Duy K, được Trương Văn L đi giao tại khu vực cầu Tống Giang, thuộc thôn 4, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau đó mang về nhà sử dụng một mình. Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ngày 01/02/2023, thì Trung dương tính với ma túy, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Nguyễn Văn Trung về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, phạt tiền 1.500.000 đồng.

- Đối với Ninh Thái S chủ nhà số nhà 48, Lê Thánh Tông, Thôn 5, xã Quang Trung, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, do gia đình không có nhu cầu sử dụng nên ngày 14/01/2023 gia đình anh cho Trương Văn L thuê với giá 2.300.000đ/tháng, do tin tưởng nên anh Sang không đến kiểm tra bao nhiêu người ở trọ và không biết việc Luân thuê phòng ở và bán ma túy nên không có cơ sở để xử lý.

Án phí HSST các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: điểm b, điểm p khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58/BLHS( đối với K);

* Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58/BLHS (đối với L);

* Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy K (tên gọi khác: K mốc), Trương Văn L phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy"

- Xử phạt: Nguyễn Duy K 09( chín) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/01/2023.

- Xử phạt: Trương Văn L 07( bảy) năm 03( ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27/01/2023.

* Xử lý tang vật: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 47,269g các hạt tinh thể trong suốt dạng cục của phong bì ký hiệu M1; 01 viên nén hình ngũ giác, cạnh góc kích thước không đồng đều, màu nâu, trên mặt dập nổi hình đầu lâu có tổng khối lượng là 0,494g của phong bì ký hiệu M2 (là các mẫu vật còn lại sau giám định).

+ 02 viên pin tròn đường kính khoảng 1.5cm.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 điện thoại di động Iphone màu xanh nhạt, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;

+ 01 Điện thoại di động Iphone màu đen, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng;

+ 01 Cân điện tử màu bạc, trên cân có dán nhãn ký hiệu 200g/0.01g-QC.PASS đã qua sử dụng.

+ Số tiền 6.550.000 đồng, trong đó: thu của Khánh 4.550.000đ (Bốn triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng); thu của Luân 2.000.000đ (Hai triệu đồng)( số tiền 2.000.000đ gia đình L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn).

( Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 22/5/2023 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn và theo biên lai thu số: AA/2022/0002219 ngày 05/6/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn).

* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc bị cáo Nguyễn Duy K, Trương Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/6/2023).

Cỡ chữ