- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy Phương Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 18/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và ông Nguyễn Hữu Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 08/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 04/4/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy P, sinh ngày 07/6/1993 tại C, D; nơi cư trú: Xóm Thái Loan, xã B, huyện C, tỉnh D; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới Th: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy E và bà Nguyễn Thị F; vợ là Nguyễn Thị G; bị cáo có 02 người con sinh năm 2019 và năm 2021; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2022 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1997 (đã chết)
- Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1975 và bà Lê Thị K, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện X, tỉnh Gia Lai, là cha mẹ đẻ của bị hại Huỳnh Ngọc T. Bà Lê Thị K ủy quyền cho ông Huỳnh Văn H tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền lập ngày 10/10/2022 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện X, tỉnh Gia Lai; ông Huỳnh Văn H và bà Lê Thị K đều có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y; địa chỉ trụ sở: Số 43Đ Thái Phiên, Khối 5, phường Z, thành phố S, tỉnh D. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn X1, sinh năm 1973; địa chỉ: Số 101 Ngô Gia Tự, phường U, thành phố S, tỉnh D, chức vụ: Giám đốc Công ty; Ông Phạm Văn X1 ủy quyền cho ông Trần Quang X2, sinh năm 1978; đị chỉ: Thôn 6, xã Quỳnh Giang, huyện U1, tỉnh D tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền được lập ngày 10/10/2022; ông Trần Quang X2 có mặt.
- Người làm chứng: Hoàng Thái A1, sinh năm 1963; địa chỉ: Tổ 4, phường O, thị xã A, tỉnh Gia Lai; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 01/7/2022, Nguyễn Duy P ký hợp đồng lao động làm nhân viên lái xe cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y. Ngày 23/9/2022, P điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 37C-325.55 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y chở 30.020 kg dịch chanh dây lưu thông theo Quốc lộ 19 hướng Gia Lai đi Bình Định từ thành phố B1, tỉnh Gia Lai về tỉnh D. Trên xe có anh Trần Quang X2 là nhân viên của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y ngồi ở ghế phụ. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường Km 80 + 550m, Quốc lộ 19 thuộc Tổ 1, phường O, thị xã A, tỉnh Gia Lai, P quan sát thấy có một chiếc xe ô tô tải (không rõ biển kiểm soát) lưu thông phía trước cùng chiều với xe do P điều khiển. Phần đường bên trái, hướng Bình Định đi Gia Lai có xe mô tô chạy ngược chiều ở làn đường trong cùng. P bật đèn xi nhan bên trái rồi điều khiển xe ô tô biển số 37C-325.55 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22 chạy sang phần đường bên trái để vượt xe ô tô tải phía trước cùng chiều. Cùng lúc này, Huỳnh Trọng T điều khiển xe mô tô biển số 88K4 - 7734 lưu thông hướng Bình Định đi Gia Lai từ phần đường bên phải sang vị trí gần tim đường theo hướng đi của T thì va chạm vào cánh cửa bên phải, bánh xe bên phải trục 02 của xe ô tô đầu kéo biển số 37C-325.55 và va đập vào thùng sơ mi rơ moóc biển số 37R- 022.22 làm xe mô tô 88K4 – 7734 ngã xuống đường, Huỳnh Trọng T tử vong tại chỗ. Sau khi xảy ra tai nạn, P thắng xe và điều khiển xe dừng ở lề bên phải theo hướng lưu thông của mình cách nơi xảy ra tai nạn khoảng 70 mét, rồi xuống xe đi vòng qua bên trái của xe ô tô đầu kéo đến cuối đuôi xe để kiểm tra dấu vết va chạm, nhưng không thấy dấu vết gì. Sau đó, P tiếp tục điều khiển xe ô tô 37C-325.55 kéo theo sơ mi rơ moóc 37R-022.22 lưu thông theo Quốc lộ 19 hướng Gia Lai đi Bình Định. Khi đến Km 67+400m, Quốc lộ 19 thuộc thôn C2, xã E1, thị xã A, tỉnh Gia Lai thì bị lực lượng Cảnh sát Giao thông dừng xe kiểm tra P tiện và yêu cầu P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A làm việc.
Tại Kết luận giám định tư pháp ngày 07/10/2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai về đối tượng giám định: Xe ô tô đầu kéo biển số 37C-325.55 tại thời điểm giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (đèn báo rẽ phía trước bên trái không hoạt động, gạt nước bên phải không hoạt động, sử dụng cỡ lốp không đúng theo tài liệu kỹ thuật).
Tại Kết luận giám định tư pháp ngày 07/10/2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai về đối tượng giám định: Sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22 tại thời điểm giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (01 lốp phía trong bên trái của trục 2 bị mòn quá giới hạn quy định của nhà sản xuất).
Tại Kết luận định giá tài sản số 58/HĐĐGTS ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã A xác định: Giá trị thiệt hại tại thời điểm ngày 23/9/2022 của các chi tiết, bộ phận sau khi bị hư hỏng của xe mô tô biển số 88K4-7734 là 1.340.000đ (một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số: 652/KL-KTHS ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai đối với tử thi Huỳnh Trọng T xác định nguyên nhân chết do: Chấn thương ngực kín.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã thu giữ các vật chứng gồm:
- 01 (một) xe ô tô biển số 37C-325.55; 01 (một) sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 093638, biển số 37C-325.55; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc số 004203, biển số 37R-022.22; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường P tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 0922316 của xe ô tô biển số 37C-325.55; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường P tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 0715135 của sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô 37C-325.55.
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng FC, số 310189006857, họ tên Nguyễn Duy P.
- 01 (một) xe mô tô biển số 88K4-7734.
- 01 (một) đĩa CD trên đĩa có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Duy P bên trong lưu trữ file video của camera hành trình gắn phía trước trên xe ô tô đầu kéo biển số 37C-325.55 kéo theo sơ mi rơ moóc 37R-022.22 ghi hình nội dung sự việc xảy ra từ 19 giờ 45 phút 05 giây đến 19 giờ 46 phút 09 giây ngày 23/9/2022.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã xử lý vật chứng, cụ thể như sau:
- Trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y: Chiếc xe ô tô biển số 37C-325.55, sơ mi rơ moóc biển số 37R - 022.22 và các giấy tờ có liên quan gồm: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 37C-325.55; Giấy chứng nhận đăng ký sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường P tiện giao thông cơ giới đường bộ xe ô tô biển số 37C-325.55; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường P tiện giao thông cơ giới đường bộ của sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô 37C-325.55.
- Trả lại cho ông Huỳnh Văn H, là cha của Huỳnh Trọng T xe mô tô biển số 88K4-7734.
- Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD, trên đĩa có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Duy P.
Tại Bản cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đề nghị trả lại Giấy phép lái xe hạng FC, số 310189006857 cho bị cáo Nguyễn Duy P và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ông Huỳnh Văn H là đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Tai nạn giao thông xảy ra vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23/9/2022 tại Km 80 + 550m, Quốc lộ 19 thuộc Tổ 1, phường O, thị xã A, tỉnh Gia Lai làm con của ông là Huỳnh Ngọc T chết là ngoài ý muốn của cả hai bên. Sau khi xảy ra tại nạn, bị cáo Nguyễn Duy P và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y đã bồi thường cho gia đình ông số tiền 180.000.000 đồng, đồng thời đã cử người đến để thăm hỏi, động viên gia đình. Vì vậy, ông không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy P và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y phải bồi thường thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại Km 80 + 550m, Quốc lộ 19 thuộc Tổ 1, phường O, thị xã A, tỉnh Gia Lai, bị cáo Nguyễn Duy P điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 37C-325.55 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22 vượt xe tải lưu thông phía trước cùng chiều không đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 88K4 - 7734 do Huỳnh Trọng T điều khiển chạy ngược chiều, làm Huỳnh Trọng T tử vong tại chỗ, xe mô tô biển số 88K4 – 7734 bị hư hỏng thiệt hại 1.340.000đ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy P đã vượt xe khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt là vi phạm khoản 2, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn, hậu quả làm chết một người và gây thiệt hại về tài sản cho người khác 1.340.000đ là nghiêm trọng. Do đó, đã đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Duy P đã điều khiển xe ô tô biển số 37C- 325.55 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 37R-022.22 bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, tai nạn xảy ra cũng xuất phát từ một phần lỗi của bị hại khi điều khiển xe mô tô biển số 88K4-7734 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn khi gặp chướng ngại vật. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm chết một người và gây thiệt hại về tài sản cho người khác là nghiêm trọng. Nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn trong vụ án này thuộc về bị cáo. Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm. Do đó cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc, đồng thời áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội đã phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y bồi thường thỏa đáng cho gia đình bị hại, nguyên nhân dẫn đến tai nạn cũng xuất phát từ một phần lỗi của bị hại, vì vậy cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo vi phạm cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo bị xử phạt bằng hình phạt tù có thời hạn, mặt khác gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các con của bị cáo còn nhỏ. Việc cấm hành nghề lái xe trong một thời gian nhất định sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị cáo. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là “Cấm hành nghề” theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Duy P và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y đã bồi thường cho ông Huỳnh Văn H là đại diện hợp pháp của bị hại Huỳnh Trọng T với số tiền 180.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Y phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Do không áp dụng biện pháp cấm hành nghề lái xe nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy P 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số 310189006857 mang tên Nguyễn Duy P. Các vật chứng còn lại đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 299; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy P 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù Th từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 09 tháng 11 năm 2022).
3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy P: Giấy phép lái xe hạng FC, số 310189006857 mang tên Nguyễn Duy P.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Duy P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (18/4/2023), bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND thị xã A; - Công an thị xã A; - Chi cục THADS thị xã A; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tứ Hải |