- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trai phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Kim Th phạm tội “ Tàng trữ trái phép ch t ma túy ”. Xử phạt bị cáo Lưu Thị Kim Th 09 ( chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 28-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: + bà Nguyễn Thị Tươi
+ Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký viên chính, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2023/TLST- HS ngày 05 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Th im Th (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 12/6/2005. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 03 tháng 05 ngày).
Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú : Thôn Tân Dư ng 1, xã N V, huyện H L, tỉnh N B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; văn hoá: 11/12 Nghề nghiệp: Học sinh; Con ông: Lưu Minh H - Sinh năm: 1968 ;Con bà: Nguyễn Thị Kh - Sinh năm: 1965. Cả bố và mẹ đang trú tại thôn Tân Dư ng 1, xã N V, huyện H L, tỉnh N B. Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/9/2022 đến ngày 21/9/2022 thay đổi biện pháp ngăn ch n C m đi kh i nơi cư trú đến nay ( có m t tại phiên toà).
2.Người bào chữa cho bị cáo Lưu Thị Kim Th : ông Phạm Văn S - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N B ( vắng m t).
3.Người đại diện cho trường THPT Trần Hưng Đ, thành phố N B, tỉnh N B: Cô giáo Đỗ Thị H, sinh năm 1977 ( có m t).
4.Người đại diện hợp pháp của bị cáo : bà Nguyễn Thị Kh, sinh năm 1965 ( là mẹ) ; trú tại : thôn Tân Dư ng 1, xã N V, huyện H L, tỉnh N B ( có m t).
5.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Trương Thị Q, sinh năm 2000; địa chỉ : xã Khánh Công, huyện Y Kh, tỉnh N B (vắng m t).
- chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1999; địa chỉ : thôn La Mai, xã N G, huyện H L, tỉnh N B ( vắng m t).
6. Người làm chứng:
- anh Lưu Mạnh C, sinh năm 1991;
- anh Hà Đức V, sinh năm 1985;
- anh Vũ Anh Đ, sinh năm 1962;
( Những người làm chứng vắng m t không có lý do) .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Thị Kim Th và Trương Thị Q, sinh năm 2000, trú tại xã Khánh Công, huyện Yên Khánh, tỉnh N B có mối quan hệ bạn b với nhau. Khoảng 22 giờ ngày 17/9/2022, Q gọi điện rủ Th lên quán Jet Lounge, địa chỉ số 30, đường Ngô Quyền, phố 4, phường Đ Tha, thành phố N B, tỉnh N B để ngồi chơi, nghe nhạc. Khi đi đến quán, Th g p Q tại trước cửa quán rồi cùng đi vào tầng 1 quán Jet Lounge thì g p Nguyễn Thị H, sinh năm 1999, trú tại thôn La Mai, xã N G, huyện H L, tỉnh N B là người quen của Th và Q. Cả 3 đứng nói chuyện rồi Q dắt Th vào ngồi tại bàn 16 tầng 2 của quán cùng với bạn của Q là Nguyễn Văn V, sinh năm 1992, trú tại xã N V, huyện H L, tỉnh N B; Lê Văn Q, sinh năm 1995, trú tại xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; Phan Đình T, sinh năm 1994, trú tại thị tr n Yên Ninh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; Phạm Văn H, sinh năm 1988, trú tại xã Khánh Hải, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; Trần Văn Đ, sinh năm 1994, Lưu Mạnh C, sinh năm 1991, Hà Đức V, sinh năm 1985, Phạm Văn Q, sinh năm 1991 cùng trú tại xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Hữu C, sinh năm 1995, Nguyễn Trần Đ, sinh năm 1994 cùng trú tại xã Ninh Nh t, thành phố Ninh Bình; Đoàn Thị Việt H, sinh năm 2001, trú tại thị tr n Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Vũ Thị V, sinh năm 1993, trú tại xã Khánh Nhạc, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm 2006, trú tại xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; Lê Thị Y H, sinh năm 2006, trú tại xã Thanh Yên, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ngồi được khoảng 15 phút thì Q bảo với Th: “Em có chơi gì không?”, Th trả lời “ Có”, sau đó Q h i “Không xuống l y đồ à?”, nghĩ Q bảo g p H l y hộ túi xách nên Th đi xuống tầng 1 g p H thì H nói Q không có túi xách ở đây. Th đi lên nói lại thì Q bảo: “Xuống l y đồ mà chơi cơ mà”, Thu hiểu ý Q là xuống dưới tầng 1 g p H l y ma túy để sử dụng. Sau đó, Th xuống tầng 1 của quán g p H đang đứng trước bàn số 1 và số 2 gần nhà vệ sinh, Th nói “ Đưa đồ cho em, Q bảo”, H hiểu ý Th bảo đưa ma túy cho Th nên H l y trong túi sách màu trắng của mình một nửa viên ma túy kẹo màu tím đưa cho Th. L y được ma túy Th cầm trên tay đi lên tầng 2, trên đường đi về bàn số 16 Thu sử dụng một ít ma túy kẹo và ngồi nghe nhạc. Phần ma túy kẹo còn lại Th c t vào ví giả da của mình và để bên cạnh chỗ ngồi.
Khoảng 0 giờ ngày 18/9/2022, Tổ công tác Công an thành phố Ninh Bình tiến hành kiểm tra hành chính quán Jet Lounge do Nguyễn Văn H, sinh năm 1993, trú tại thôn Đoài Hạ, xã Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình làm chủ quán, quá trình kiểm tra phát hiện có nhiều đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép ch t ma túy, thu giữ tại dưới nền sàn nhà 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đ kích thước khoảng (7x4)cm bên trong có 01 viên nén hình ngũ giác màu tím và 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong có chứa ch t tinh thể màu trắng, 02 mảnh viên nén màu xám. Căn cứ vào tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình ra Lệnh khám xét khẩn c p quán Jet Lounge, địa chỉ số 30, đường Ngô Quyền, phố 4, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, quá trình khám xét tại bàn số 16 tầng 2 thu giữ của Lưu Thị Kim Th 01 ví giả da màu trắng tại vị trí ngồi, kiểm tra bên trong có 01 mảnh viên dạng nén màu tím; thu giữ tại nền nhà dưới chân chỗ Trần Văn Đỉnh đứng 01 gói nh gói bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên trong bám dính ch t tinh thể màu trắng; thu giữ dưới nền nhà phía sau hàng ghế ngồi 01 túi nilon màu trắng, viền xanh kích thước (1,5x1,5)cm bên trong có bám dính ch t tinh thể màu trắng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng rồi đưa Lưu Thị Kim Th và những người liên quan về trụ sở công an thành phố Ninh Bình lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Lưu Thị Kim Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh; Phạm Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A32 màu đen; Nguyễn Văn V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xám; Hà Đức V 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám; Phạm Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4 màu vàng; Lưu Mạnh C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; Trần Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng; Đoàn Thị Việt H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xám; Phan Đình T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng; Nguyễn Trần Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng; Nguyễn Hữu C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng; Lê Thị Y Hoa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh; Lê Văn Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen; Vũ Thị V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng gold; Nguyễn Thị Huyền T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
Tiến hành cân xác định khối lượng 01 mảnh viên nén màu tím thu giữ của Lưu Thị Kim Th có khối lượng 0,27 gam ký hiệu M1 gửi giám định đồng thời gửi giám định ch t tinh thể màu trắng bám dính trên tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng ký hiệu M2, ch t tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon màu trắng, viền xanh kích thước (1,5x1,5)cm trong phong bì kí hiệu B16-3 để xác định ch t ma túy và khối lượng ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 678/KLGĐ-PC09-MT ngày 20/9/2022 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: M u 01 mảnh viên nén màu tím gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2700 gam là ma túy, loại MDMA. MDMA là ch t ma túy có số thứ tự 11, thuộc bảng danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Ch t dạng tinh thể màu trắng bám dính trong tờ tiền gửi giám định ký hiệu M2 và bám dính trong túi nilon gửi giám định ký hiệu B16-3 đều là ma túy, loại Ketamine. Lượng Ketamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng. Ketamine là ch t ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn trả lại đối tượng giám định gồm: Ch t bột màu tím được nghiền ra từ mảnh viên nén màu tím còn lại trong m u gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1624 gam là ma túy, loại MDMA, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 v túi nilon, cùng toàn bộ bao gói niêm phong, t t cả được niêm phong trong 03 phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 678/KL-KTHS-MT.
Cáo trạng số 03/CT-VKSND- TPNB ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình đã truy tố Lưu Thị Kim Th về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa v n giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Lưu Thị Kim Th đủ yếu tố c u thành tội “ Tàng trữ trái phép ch t ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 65, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lưu Thị Kim Th từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Ninh V huyện Hoa L tỉnh N B quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với số vật chứng đã thu giữ là : 01 phong bì niêm phong trong đó có m u vật hoàn trả sau giám định và toàn bộ v bao gói niêm phong. Một ví giả da màu trắng, kích thước 10x5x2cm.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Người trợ giúp pháp lý có gửi bài bào chữa cho bị cáo và có quan điểm: nh t trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo nhưng có ý kiến về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giáo dục của gia đình và nhà trường để bị cáo có điều kiện tiếp tục được đi học, có cơ hội sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân tốt.
Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và áp dụng hình phạt th p nh t để bị cáo sửa chữa lỗi lầm và được tiếp tục đi học, lo được cho tương lai của bản thân .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xét h i tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều công khai hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Thị Kim Th khai nhận: Khoảng 0 giờ ngày 18/9/2022, tại quán Jet Lounge có địa chỉ ở số 30, đường Ngô Quyền, phố 4, phường Đông Thành, thành phố N B, tỉnh N B. Lưu Thị Kim Th có hành vi c t gi u trái phép 0,27gam là ma tuý, loại MDMA nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định; bản kết luận giám định và lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Do vậy khẳng định bị cáo Lưu Thị Kim Th có hành vi c t gi u trái phép 0,27gam là ma tuý loại MDMA nhằm mục đích sử dụng cho bản thân là phạm tội “ Tàng trữ trái phép ch t ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá tính ch t hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo cho th y: Tính ch t vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các ch t ma túy, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của một bộ phận thế hệ trẻ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, đang trong độ tuổi vị thành niên, còn cắp sách đến trường. Chỉ vì phút nông nổi, bồng bột của bản thân mà bị cáo phạm tội, để làm gián đoạn thời gian học tập, ảnh hưởng đến tương lai của chính mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến giá trị đạo đức, lối sống của cộng đồng, làm ảnh hưởng sức kh e của bản thân người sử dụng, gây lo lắng, b t an trong gia đình và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác; ma túy đã làm ảnh hưởng x u đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Do vậy, để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung thì việc đưa ra xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi phạm tội của mình là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét đánh giá tính ch t và mức độ phạm tội của bị cáo để lên một mức án phù hợp đảm bảo tính nghiêm minh và răn đe, nhưng cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và được tiếp tục đi học để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi là độ tuổi chưa thành niên nên khả năng nhận thức của bị cáo về tính ch t nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo gây ra còn hạn chế. Bị cáo đang đi học, lại là nữ giới, nhân thân ảnh hưởng đến tương lai của bị cáo r t nhiều. Bản thân bị cáo cũng mong muốn được quay lại trường học để hoàn thành nốt chương trình học phổ thông, có cơ hội được sửa chữa sai lầm gây dựng tương lai cho bản thân. Nên khi xem xét áp dụng hình phạt, hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng các tình tiết :
Về tình tiết tăng n ng: bị cáo Lưu Thị Kim Th không có tình tiết tăng n ng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thời gian học tập tại trường bị cáo được t ng thưởng Gi y khen vì đã có thành tích trong học tập. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố đẻ bị mù m t sức lao động, gia đình mới thoát là hộ ngh o. Nhà trường nơi bị cáo theo học có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lưu Thị Kim Th.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo bởi nhận thức của bị cáo đối với hành vi phạm tội còn giản đơn, tính ch t hành vi phạm tội của bị cáo là để sử dụng cho bản thân. Người bào chữa cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được tiếp tục đến trường, nhận sự quản lý giáo dục của gia đình, nhà trường và địa phương để trở thành người công dân tốt.
Cô giáo chủ nhiệm lớp của bị cáo (cũng là đại diện của nhà trường) có quan điểm: khi đi học bị cáo là một học sinh ngoan, biết nghe lời Thày, Cô; thực hiện tốt nội quy của nhà trường, có thái độ lễ phép, hòa nhã, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được thày, cô và lớp giao. Bị cáo có tiến bộ trong học tập thể hiện bằng việc năm học lớp 10 và học kỳ 1 của năm lớp11 có thành tích học tập tốt và được nhà trường t ng Gi y khen. Cô giáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo còn trẻ người non dại, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ nên d n đến sai lầm, lại bị rủ rê lôi kéo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, tu dư ng bản thân và tiếp tục đi học.
Hội đồng xét xử xét th y: các ý kiến trên là có căn cứ cần được xem xét, ch p nhận. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đảm bảo thực hiện nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự là: đảm bảo lợi ích tốt nh t của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội. Nên xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục đi học, chịu sự giám sát của gia đình, nhà trường và địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa. Cũng là thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo còn có tương lai.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự.
Các v n đề khác : Về nguồn gốc ma túy, Lưu Thị Kim Th khai nhận l y ma túy của Nguyễn Thị Hương. Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hương khai nhận khi Lưu Thị Kim Th g p H và bảo đưa ma túy “kẹo” cho Th, H nghĩ Th h i mua ma túy nên l y 01 viên ma túy trong túi xách màu trắng của mình chia làm 02 nửa viên, 01 nửa viên đưa cho Th nhưng chưa l y tiền luôn và dự định g p Th sẽ l y tiền ma túy sau, nửa viên còn lại H c t lại trong túi xách. Hành vi trên của Nguyễn Thị H có d u hiệu của tội “Mua bán trái phép ch t ma túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra Công an thành phố N B tách phần tài liệu liên quan đến hành vi H bán trái phép ch t ma túy cho Th để điều tra trong vụ án “Mua bán trái phép ch t ma túy” mà Cơ quan điều tra đang thụ lý để điều tra theo quy định là có căn cứ.
Đối với Trương Nguyệt Q, quá trình điều tra xác định Q bảo Lưu Thị Kim Th xuống tầng 1 quán Jet Lounge g p Nguyễn Thị H để mua ma túy, sau đó Th g p H l y 01 nửa viên ma túy kẹo để sử dụng. Việc Th xuống g p H để l y ma túy, đ c điểm, khối lượng ma túy và sử dụng ma túy như thế nào Q không biết. Do đó không đủ căn cứ để xử lý Trương Nguyệt Q đồng phạm về hành vi “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” với Lưu Thị Kim Th.
Đối với Phan Đình T, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Hữu C, Lê Thị Y H, Lê Văn Q, Vũ Thị V, Nguyễn Thị Huyền Tr, quá trình điều tra xác định các đối tượng không biết Lưu Thị Kim Th sử dụng và c t gi u ma túy, không liên quan tới hành vi phạm tội của Th. Các đối tượng khai nhận được một người đàn ông không quen biết ở quán Jet Lounge đưa ma túy kẹo và ma túy ke để sử dụng, không biết tên tuổi, địa chỉ của người đàn ông này do vậy không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ. Công an thành phố Ninh Bình đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Phan Đình T, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Hữu C, Lê Thị Y H, Lê Văn Q, Vũ Thị Vân, Nguyễn Thị Huyền Trang về hành vi “Sử dụng trái phép ch t ma túy”.
Đối với Phạm Văn Q,Trần Văn Đ, Đoàn Thị Việt H, quá trình điều tra xác định các đối tượng không biết Lưu Thị Kim Th sử dụng và c t gi u ma túy, không liên quan tới hành vi phạm tội của Th. Các đối tượng khai nhận có sử dụng ma túy nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể sử dụng ma túy tại đâu, cùng với ai do đó Công an thành phố Ninh Bình không có căn cứ xử lý về hành vi “Sử dụng trái phép ch t ma túy” và thông báo cho chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục đối với Phạm Văn Q,Trần Văn Đ, Đoàn Thị Việt H.
Đối với Nguyễn Văn V, Hà Đức V, Phạm Văn H, Lưu Mạnh C quá trình điều tra xác định các đối tượng không biết Lưu Thị Kim Th sử dụng và c t gi u ma túy, không liên quan tới hành vi phạm tội của Th. Các đối tượng khai nhận không sử dụng ma túy và không biết ai sử dụng ma túy tại quán Jet Lounge nên không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn V, Hà Đức V, Phạm Văn H, Lưu Mạnh C.
Đối với chủ quán Jet Lounge do Nguyễn Văn H là người đứng tên trên gi y phép kinh doanh, quá trình điều tra có nhiều đối tượng sử dụng trái phép ch t ma túy tại quán có d u hiệu tội “Chứa ch p việc sử dụng trái phép ch t ma túy” quy định tại điều 256 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan để điều tra, xác minh là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Đối với số vật chứng là m u giám định còn lại và v bao gói là vật Nhà nước c m lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Một túi xách thu giữ của bị cáo, bị cáo khai tại phiên toà không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh thu giữ của Lưu Thị Kim Th, quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của Th không liên quan tới vụ án. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả chiếc điện thoại trên cho Lưu Thị Kim Th, Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 16 chiếc điện thoại di động thu giữ của Phạm Văn Quỳnh, Nguyễn Văn V, Hà Đức V, Phạm Văn H, Lưu Mạnh C ,Trần Văn Đ, Đoàn Thị Việt H, Phan Đình T, Nguyễn Trần Đ, Nguyễn Hữu C, Lê Thị Y H, Lê Văn Q, Vũ Thị V, Nguyễn Thị Huyền Tr, quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của các đối tượng trên không liên quan tới vụ án. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả chiếc điện thoại trên cho các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đ kích thước khoảng (7x4)cm bên trong có 01 viên nén hình ngũ giác màu tím, 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (2,5x2,5)cm bên trong có chứa ch t tinh thể màu trắng và 02 mảnh viên nén màu xám nghi là ma túy thu giữ tại nền sàn nhà quán Jet Lounge trong quá trình kiểm tra hành chính đang được điều tra xác minh làm rõ trong vụ việc khác.
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 túi nilon màu trắng, viền xanh kích thước (1,5x1,5)cm đều bám dính ch t tinh thể màu trắng nghi là ma túy, loại Ketamine thu giữ tại sàn nhà bàn 16 tầng 2 quán Jet Lounge. Quá trình điều tra các đối tượng Phan Đình Toàn, Nguyễn Trần Đạt, Nguyễn Hữu Công khai nhận khi đang ngồi tại bàn 16 tầng 2 có 01 người đàn ông không quen biết l y ma túy ke từ túi nilon màu trắng cho vào tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và đưa cho mình sử dụng. Các đối tượng không biết tên tuổi địa chỉ của người đàn ông này do vậy Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 túi nilon màu trắng, viền xanh kích thước (1,5x1,5)cm để điều tra xác minh làm rõ là có căn cứ.
Về án phí : bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ : điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 101 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lưu Thị Kim Th phạm tội “ Tàng trữ trái phép ch t ma túy ”. Xử phạt bị cáo Lưu Thị Kim Th 09 ( chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 ( mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Lưu Thị Kim Th cho Uỷ ban nhân dân xã N V huyện H L tỉnh N B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Th có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Ninh Vân huyện Hoa Lư tỉnh N B trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, m t trước ghi “ Số 678/KL/KTHS-MT, m u vật hoàn trả gồm : M1= 0,1642 gam là ma tuý loại MDMA, toàn bộ v bao gói niêm phong”
- 01 ví giả da màu trắng kích thước khoảng 10x5x2cm.
( Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/02/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lưu Thị Kim Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử có m t bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NB; - VKSND TP. N B; - CA TP Ninh Bình; - THADS TP. N B; - Sở tư pháp tỉnh N B; - Trường THPT Trần Hưng Đạo, TPNB, NB; - Bị cáo; người có QLNVLQ; người bào chữa; - UBND xã N V, H L, NB; - Lưu VP, HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Dương Th Phương |