vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đủ tiền, không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày 16-02-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền và ông Nguyễn Phúc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

PHẠM VĂN H, sinh năm 1992; ĐKHKTT: thôn LT, xã HT, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Lại Thị L; chưa có vợ, con;

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HSST ngày 22/3/2018 của Toà án nhân dân quận G, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Văn H 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022, chưa được xoá án tích;

Tiền sự: không;

Tạm gi , tạm giam: t ngày 21/11/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Lê Thị Tr, sinh năm 2001; ĐKHKTT: xã HT, huyện NS, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Số 124 T, huyện TT, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Quang A, sinh năm 1998; ĐKHKTT: Đội 3, xã C, huyện V, thành phố Hà Nội; nơi ở: Số 5 T1, quận G, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 15/11/2022, Phạm Văn H đến quán Swan Gaming địa chỉ: LK2A-20 Nguyễn Văn Trỗi, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mục đích để trộm cắp tài sản của khách chơi game. Khi vào quán, H gặp quản lý để hỏi mua combo giá cước chơi game qua đêm thì được nhân viên hướng dẫn lên tầng 3 của Swan Gaming, ban đầu H ngồi chơi tại phòng game phía trong của quán (phòng Super Vip). Khoảng gần 02 giờ ngày 16/11/2022, H chuyển sang phòng game FPS phía ngoài của tầng 3, tại đây H ngồi chơi tại máy số T3-14, H quan sát thấy chị Lê Thị Tr ngồi chơi game tại máy số T3-12 có chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu xanh để trên bàn, H thấy chị Tr nhập mật khẩu khóa màn hình điện thoại 080901. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, H thấy chị Tr ngủ trên ghế, chiếc điện thoại di động Iphone 11 của chị Tr để trên mặt bàn máy game. H đứng dậy đi đến chỗ chị Tr, dùng tay trái của mình cầm chiếc điện thoại di động Iphone 11 của chị Tr cất vào trong túi quần trước bên trái và bỏ đi. H đi xe bus đến cửa hàng “Anh Hòa Mobile” tại địa chỉ Số 5 Trần Thánh Tông, quận G, thành phố Hà Nội bán cho anh Nguyễn Quang A chiếc điện thoại trên với giá 5.000.000 đồng. H sử dụng 2.400.000 đồng vào việc tiêu xài cá nhân. Ngày 20/11/2022, H đến Công an phường Mộ Lao đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp 2.600.000 đồng.

Anh Nguyễn Quang A đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11.

Tại Biên bản định giá tài sản số 245/BB-HĐĐGTS và Kết luận định giá tài sản số 245/KL-HĐĐGTS cùng ngày của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hà Đông kết luận: Giá trị tài sản 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 128Gb, số Imei 352918112481301, Imei 2: 35291811246117 trị giá 8.500.000 đồng.

Trong giai đoạn điều tra, Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 05/CT-VKS-HĐ ngày 13/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên gi nguyên bản cáo trạng. Hành vi của bị cáo xâm phạm quyền sở h u tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Năm 2018, bị cáo bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, lần này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, gia đình đã bồi thường toàn bộ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo t 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được nhận lại đủ tiền nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng đã thu gi .

Bị hại Lê Thị Tr vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong giai đoạn điều tra và ý kiến trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, chị Tr khai đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác; về hình phạt, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật và giảm hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Quang A vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong giai đoạn điều tra và ý kiến trong đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, anh Quang A khai đã giao nộp chiếc điện thoại để trả lại bị hại; đồng thời đã được nhận lại đủ số tiền 5.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của nh ng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của nh ng người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: tại phiên tòa, bị cáo th a nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để kết luận: Do có mục đích trộm cắp tài sản của người chơi game nên khoảng 23 giờ ngày 15/11/2022, Phạm Văn H đến quán Swan Gaming tại địa chỉ: LK2A-20 Nguyễn Văn Trỗi, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mua combo cước chơi game qua đêm rồi quan sát tìm người sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản của họ. Đến khoảng 06 giờ ngày 16/11/2022, lợi dụng sơ hở của chị Lê Thị Tr, H lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 128Gb, số Imei 352918112481301, Imei 2: 35291811246117 trị giá 8.500.000 đồng của chị Tr rồi mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Hành vi của Phạm Văn H thỏa mãn dấu hiệu của tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ giá trị tài sản bị chiếm đoạt, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường quyền sở h u tài sản của người khác, coi thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HSST ngày 22/3/2018 của Toà án nhân dân quận G, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Văn H 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022, áp dụng các điều 53, 70 của Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa được xoá án tích lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại, đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật, mới chấp hành xong hình phạt tù lại tiếp tục phạm tội cùng loại, cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người làm ăn chân chính.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đủ tiền, không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu gi của bị cáo Phạm Văn H chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng xanh bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác:

- Đối với anh Nguyễn Quang A là người mua chiếc điện thoại Iphone 11, khi mua anh Quang A không biết là tài sản do H phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không xử lý về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp với pháp luật.

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày 21/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đủ tiền, không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng xanh thu gi của bị cáo Phạm Văn H.

Vật chứng trên hiện đang lưu gi tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2023 gi a Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án 16/02/2023; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn) nơi đương sự cư trú, hoặc cư trú cuối cùng.

Cỡ chữ