- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công Nghị và đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo); điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 (đối với bị cáo Trương Công N); điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 65 (đối với các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1) và…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T L TỈNH H N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 21 - 3 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T L - TỈNH H N
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Mơ và ông Lưu Văn Ninh.
- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L, tỉnh H N tham gia phiên toà: ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T L, tỉnh H N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý 17/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Trương Công N - sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn S N, xã T T, huyện T L, tỉnh H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Công T2 và bà Nguyễn Thị G; có vợ là Hoàng Thùy L và 03 con, lớn nhất S năm 2014, nhỏ nhất S năm 2018; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/11/2022, đến ngày 05/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H N, có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Trung T - sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: thôn C T, xã L S, huyện T L, tỉnh H N; nơi ở: thôn S N, xã T T, huyện T L, tỉnh H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Bùi Văn K và bà Trần Thị C; có vợ là Phạm Thị Lan và 03 con, con lớn S năm 2014, con nhỏ S năm 2022; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/11/2022, đến ngày 05/12/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Văn T1 - sinh năm 1973; nơi cư trú: thôn S N, xã T T, huyện T L, tỉnh H N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; có vợ là Trần Thị T3 và 02 con, con lớn S năm 2001, con nhỏ S năm 2010; tiền án, tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: ngày 20/01/2014 bị Công an huyện T L, xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; tạm giữ: bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/11/2022, đến ngày 05/12/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Hoàng Văn N1
- sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn C T, xã L S, huyện T L, tỉnh H N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được phản ánh của quần chúng nhân dân về việc Trương Công N có hành vi bán số lô đề trái phép, ngày 25/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T L đã triệu tập N đến trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện T L, N thừa nhận bản thân không có hợp đồng làm đại lý bán xổ số với Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết H N, nhưng do hám lợi N đã trực tiếp bán số lô đề trái phép cho các khách chơi bằng hình thức nhắn tin qua điện thoại, cụ thể: N bán số lô đề cho khách có nhu cầu mua sau đó sẽ tập hợp nhắn tin chuyển bảng lô đề cho người chủ bảng lô đề có tên là S ở thị xã D T, tỉnh H N để hưởng phần trăm hoa hồng (N không biết lai lịch, địa chỉ nhà ở của S, không nhớ được số điện thoại của S), T bộ các tin nhắn chuyển bảng lô đề cho S thì N đã xóa, không còn lưu trữ nội dung nào. Đối với số bao lô N bán cho khách giá 23.000 đồng/01 điểm rồi chuyển lại cho S với giá 22.000 đồng/01 điểm (N được hưởng 1.000 đồng/01 điểm); đối với các số đề, 3 càng, lô xiên thì N được hưởng 20% tổng số tiền bán được. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày để xác định người trúng thưởng và không trúng thưởng, N sẽ đứng ra thanh toán tiền với khách còn S sẽ thanh toán, đối trừ, trả tiền phần trăm cho N trực tiếp vào ngày hôm sau. Nếu khách không trúng thưởng thì S được hưởng toàn bộ số tiền khách mua, N được hưởng hoa hồng theo thỏa thuận.
Hình thức chơi và trúng thưởng như sau: căn cứ vào kết quả Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày, đối với các số bao lô N bán cho khách giá 23.000 đồng /01 điểm, nếu số bao lô khách mua trùng với hai số cuối của 27 giải thì trúng thưởng với tỷ lệ 01 điểm được 80.000 đồng, nếu số bao lô khách mua có ở 2, 3, 4... bộ số thì trúng thưởng gấp 2,3,4... lần. Ngoài ra, người chơi có thể mua lô xiên 2, xiên 3, xiên 4.... Nếu số lô xiên khách mua trùng với 2 cặp số cuối (xiên 2), 3 cặp số cuối (xiên 3), 4 cặp số cuối (xiên 4).... của 27 giải trong kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc thì trúng thưởng với tỷ lệ 1x10 lần đối với xiên 2, 1x40 lần đối với xiên 3, 1x120 lần đối với xiên 4... Đối với các số đề, nếu số đề khách mua trùng với 02 số cuối giải đặc biệt thì trúng thưởng với tỷ lệ 1x70 lần. Đối với các số ba càng, nếu số ba càng khách mua trùng với 03 số cuối giải đặc biệt thì trúng thưởng với tỷ lệ 1x400 lần.
Quá trình điều tra đã xác định như sau:
- Ngày 26/10/2022, N bán cho Bùi Trung T các số bao lô “00, 55, 05, 50, 76, 77, 09, 90, 68, 86, 91, 96, 01, 30, 80” mỗi số 10 điểm, giá 01 điểm bao lô là 23.000 đồng; số đề dòng 02 giá 240.000 đồng, số đề dòng 14 giá 240.000 đồng, số đề dòng 24 giá 400.000 đồng, số đề dòng 23 giá 400.000 đồng; các số đề “03, 08, 13, 18, 33, 38, 73, 78, 93, 98” mỗi số giá 50.000 đồng, các số 3 càng “170, 178, 173” mỗi số 50.000 đồng; tổng cộng 5.380.000 đồng. T trúng thưởng số bao lô “00” hai nháy, số bao lô “55, 50, 77, 09, 68, 91, 01” mỗi số một nháy; được tổng cộng 7.200.000 đồng. Như vậy, số tiền N sử dụng để đánh bạc với T là 12.580.000 đồng. N và T đã thanh toán với nhau xong tiền mua bán lô đề và tiền trúng thưởng.
- Ngày 19/11/2022, N bán cho Nguyễn Văn T1 các số bao lô “68, 86, 88, 83, 38, 33” mỗi số 30 điểm, giá 01 điểm là 23.000 đồng, các số đề tổng 4 (04,40,22,13,31,59,95,77, 68,86) giá 1.000.000 đồng, các số đề tổng 9 (09,90,18,81,54,45,36,63,27,72) giá 1.000.000 đồng; tổng cộng 6.140.000 đồng. T1 trúng thưởng số bao lô “83” một nháy được 2.400.000 đồng. Như vậy, số tiền N sử dụng để đánh bạc với T1 là 8.540.000 đồng. N và T1 chưa thanh toán với nhau tiền mua bán lô đề và tiền trúng thưởng.
- Ngày 24/11/2022, N bán cho Hoàng Văn N1 các số bao lô “26, 24, 38, 74, 44” mỗi số 20 điểm, giá 01 điểm là 23.000 đồng; các cặp lô xiên 3 “26, 38, 74”, “47, 74, 44”, “26, 38, 47”, “26, 24, 38” mỗi cặp 100.000 đồng; tổng cộng 2.700.000 đồng, N1 không trúng thưởng. N1 chưa thanh toán với N số tiền trên.
* Vật chứng và tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen do Trương Công N tự nguyện giao nộp, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc do Nguyễn Văn T1 tự nguyện giao nộp, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 pro màu tím xanh do Bùi Trung T tự nguyện giao nộp.
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTL ngày 24/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện T L đã truy tố Trương Công N, Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T L giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề N Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Trương Công N, Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo); điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 (đối với bị cáo Trương Công N); điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 65 (đối với các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1) - xử phạt Trương Công N từ 08 đến 11 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; xử phạt Bùi Trung T 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 12 đến 18 tháng; xử phạt Nguyễn Văn T1 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 12 đến 18 tháng. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 pro màu tím xanh. Truy thu nộp ngân sách nhà nước của Trương Công N số tiền 7.780.000 đồng, của Bùi Trung T số tiền 7.200.000 đồng, của Nguyễn Văn T1 số tiền 6.140.000 đồng, của Hoàng Văn N1 số tiền 2.700.000 đồng.
- Các bị cáo đều T khẩn khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với Biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trương Công N mặc dù không có hợp đồng làm đại lý bán xổ số với Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết H N, nhưng do hám lợi nên đã bán số lô đề trái phép cho khách chơi thông qua hình thức nhắn tin qua điện thoại di động, rồi tập hợp chuyển bảng cho chủ lô đề để hưởng phần trăm hoa hồng. Quá trình điều tra đã xác định rõ ngày 26/10/2022 tại thôn S N, xã T T, huyện T L, tỉnh H N, Trương Công N bán số lô, đề trái phép cho Bùi Trung T, tổng số tiền mà N và bị cáo T sử dụng vào việc đánh bạc là 12.580.000 đồng; ngày 19/11/2022 Trương Công N bán số lô, đề trái phép cho Nguyễn Văn T1, tổng số tiền mà bị cáo N và bị cáo T1 sử dụng vào việc đánh bạc là 8.540.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, tình hình an ninh, trật tự, an T xã hội tại địa phương. Bản thân các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T L truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này Trương Công N đã bán trái phép số lô, đề cho Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 nên giữ vai trò thứ nhất; Nguyễn Văn T1 và Bùi Trung T cùng tham gia đánh bạc dưới vai trò là người mua số lô, số đề trái phép của N nên đồng phạm và giữ vai trò thứ hai.
Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: các bị cáo Trương Công N, Bùi Trung T đều có nhân thân tốt; bị cáo Nguyễn Văn T1 có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Trương Công N phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã “T khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra các bị cáo Trương Công N, Nguyễn Văn T1 có thời gian tham gia quân ngũ, đã hoàn T nghĩa vụ quân sự; bị cáo N có ông nội là ông Trương Văn Sừ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo T có bà nội là Thạch Thị Ánh tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Nguyễn Văn T1 có bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị Q tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng huân, huy chương. Mặt khác, các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Trương Công N mặc dù có nhân thân tốt, nhưng giữ vai trò thứ nhất trong vụ án, vì hám lời mà bán số lô, số đề, đánh bạc nhiều lần (phạm tội 02 lần trở lên) với tổng số tiền là hơn 20.000.000 đồng, thể hiện sự coi thường pháp luật, do đó cần áp dụng hình phạt tù mới có tác dụng cải tạo bị cáo N T người có ích cho xã hội.
Các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; bị cáo T có nhân thân tốt, bị cáo T1 mặc dù có nhân thân xấu bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc từ năm 2014, đã cách đây nhiều năm, không còn nghiêm trọng nữa. Vì vậy, xét thấy không cần phải bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo được hưởng án treo, chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung. Việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an T xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nhưng cũng phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Hình phạt bổ sung: xét thấy, các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn; nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen của Trương Công N, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc của Nguyễn Văn T1, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 pro màu tím xanh của Bùi Trung T quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của N, T, T1, các bị cáo sử dụng vào việc mua, bán số lô, số đề trái phép, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Ngày 26/10/2022, Trương Công N bán số lô, đề cho Bùi Bùi Trung T với số tiền 5.380.000 đồng; T trúng thưởng 7.200.000 đồng. Cả hai bị cáo đã thanh toán xong cho nhau số tiền mua bán số lô, đề và tiền trúng thưởng; do đó cần truy thu của N số tiền 5.380.000 đồng và T số tiền 7.200.000 đồng, nộp Ngân sách Nhà nước.
Ngày 19/11/2022, Trương Công N bán số lô, đề cho Nguyễn Văn T1 với số tiền 6.140.000 đồng; T1 trúng thưởng 2.400.000 đồng. Cả hai bị cáo chưa thanh toán cho nhau số tiền mua bán số lô, đề và tiền trúng thưởng. Do đó, cần truy thu của N số tiền 2.400.000 đồng và T1 số tiền 6.140.000 đồng, nộp Ngân sách Nhà nước.
Ngày 24/11/2022, N bán số lô cho Hoàng Văn N1 với số tiền 2.700.000 đồng, N1 không trúng thưởng. N1 chưa thanh toán tiền cho N. Do đó, cần truy thu của N1 số tiền 2.700.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước.
Tổng cộng, cần truy thu của Trương Công N số tiền 7.780.000 đồng, Bùi Trung T số tiền 7.200.000 đồng, Nguyễn Văn T1 số tiền 6.140.000 đồng; Hoàng Văn N1 số tiền 2.700.000 đồng, nộp Ngân sách Nhà nước.
Về các vấn đề khác:
Đối với Trương Công N: quá trình điều tra xác định N còn đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề trái phép cho Hoàng Văn N vào ngày 24/11/2022 với số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.700.000 đồng dưới 5.000.000 đồng, tuy nhiên bản thân N chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên hành vi nêu trên của N không cấu T tội phạm. Do đó, Công an huyện T L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt 3.500.000 đồng đối với Trương Công N về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề giao lại cho người khác để hưởng hoa hồng” là có đúng pháp luật.
Đối với Hoàng Văn N1, ngày 24/11/2022 đã đánh bạc dưới hình thức mua số lô đề của Trương Công N với số tiền sử dụng để đánh bạc là 2.700.000 đồng. Tuy nhiên, bản thân N1 chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc, số tiền sử dụng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên hành vi nêu trên của N1 không cấu thành tội phạm. Việc Công an huyện T L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng đối với N1 về hành vi “Đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô đề” là đúng pháp luật.
Đối với đối tượng có tên S, ở thị xã D T, tỉnh H N, quá trình điều tra Trương Công N khai là người nhận số lô, đề của N, N không biết lại lịch, địa chỉ cụ thể của S, ngoài lời khai duy nhất của N ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nhân thân, lại lịch của S, do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để triệu tập, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 (đối với tất cả các bị cáo); điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 (đối với bị cáo Trương Công N); điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 65 (đối với các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1) và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106; 136; 329; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên bố các bị cáo Trương Công N, Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt Trương Công N 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/11/2022.
- Xử phạt bị cáo Bùi Trung T 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/3/2023);
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/3/2023);
Giao các bị cáo Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã T T, huyện T L, tỉnh H N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F11 pro màu tím xanh (tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/02/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T L).
Truy thu của bị cáo Trương Công N số tiền 7.780.000 đồng, bị cáo Bùi Trung T số tiền 7.200.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 6.140.000 đồng; Hoàng Văn N số tiền 2.700.000 đồng, nộp Ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: các bị cáo Trương Công N, Bùi Trung T, Nguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: các bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H N; - VKSND tỉnh H N; - Trại tạm giam Công an tỉnh H N; - VKSND huyện T L; - Công an huyện T L; - Chi cục THA DS huyện T L; - Sở Tư pháp tỉnh H N; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lưu Văn Ninh Phạm Thị Mơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Ái Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Ái |