- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phàn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TU TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 17-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang và Ông Hoàng Văn Phanh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 03/02/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên Phàn Văn C; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1988; Nơi sinh: Huyện TU, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản QT, xã PT, huyện TU, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Phàn Văn Nh, sinh năm 1966 và con bà Tẩn Thị Gh, sinh năm 1966; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ Nh trong gia đình; Vợ: chưa có; Năm 2008 bị cáo chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn với Tẩn Thị M, sinh năm 1995 trú tại bản QT, xã PT, huyện TU và có hai con chung, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/10/2022, đến ngày 27/10/2022 bị cáo bị áp dụng biện pháp “Tạm giam” tại Nhà tạm giữ Công an huyện TU, tỉnh Lai Châu. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Lò Văn Th, sinh năm 1989; địa chỉ: bản M, xã TG, huyện TU1, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
- Anh Lò Văn Nh, sinh năm 1988; bản Hỳ, xã TG, huyện TU1, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/10/2022, Phàn Văn C đi làm thuê tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU1 rồi ngủ lại tại đây. Đến khoảng 07 giờ, ngày 18/10/2022, khi C đang đi bộ trong bản Noong Thăng thì gặp Lò Văn Nh và Lò Văn Th cũng đang ở cùng bản. Do quen biết nhau từ trước nên C, Nh và Th dừng nói chuyện với nhau, lúc này Th nhìn thấy C đang cầm 01 con dao nhọn nên Th hỏi C “bán cho tao con dao kia đi, tao không có dao dùng”. Nghe Th nói vậy, C đồng ý bán cho Th con dao với giá 50.000 đồng. Mua dao xong, Th rủ C đi lên bãi vàng thuộc địa phận xã PT để tìm việc làm, C đồng ý. Sau đó C nói với Th và Nh đợi rồi C một mình đi vào trong bản cách chỗ Th và Nh khoảng 25m mục đích mua Heroine để sử dụng nhưng không nói cho Th và Nh biết. Sau đó C gặp và hỏi mua được một gói Heroine bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu hồng của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 50.000 đồng là tiền C vừa bán dao cho Th. Sau khi mua được Heroine, C trích ra một phần rồi sử dụng hết tại chỗ, phần còn lại C gói lại như ban đầu mục đích để sử dụng sau, rồi C cầm ở trong lòng bàn tay trái đi xuống chỗ Th và Nh đang đứng đợi nhưng không nói cho Th và Nh biết. Sau đó Nh điều khiển xe mô tô của Nh chở C và Th đi lên bãi vàng thuộc địa phận xã PT để đào mót quặng vàng. Khi C, Nh và Th đi đến bản Mít Thái, xã PT, huyện TU thì bị lực lượng Công an xã PT kiểm tra phát hiện và bắt quả tang đối với Phàn Văn C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong lòng bàn tay trái của C 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,2 gam
Ngày 18/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện TU đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 53/KL-TCGĐ ngày 18/10/2022 của người giám định tư pháp, kết luận vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Phàn Văn C có khối lượng là 0,2 gam.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện TU đã trích 0,12 gam trong tổng số 0,2 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Phàn Văn C theo C khai nhận là Heroine gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 817/GĐ-KTHS ngày 20/10/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine
Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-TU ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU đã truy tố bị cáo Phàn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Bản kết luận điều tra số 01/KLĐT ngày 19/12/2022 của Cơ quan cảnh sát Công an huyện TU và Bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TU, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 09 giờ 00 phút, ngày 18/10/2022, tại bản Mít Thái, xã PT, huyện TU, tỉnh Lai Châu bị cáo Phàn Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép trong lòng bàn tay trái 01 gói Heroine có khối lượng 0,2 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã PT, huyện TU phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: khi bị công an phát hiện bắt quả tang có xét nghiệm chất ma túy thì bị cáo có sử dụng chất ma túy (dương tính).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật rất hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt để tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có Th bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 0,08 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng. Xét thấy cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc 0,2 gam Heroine bị cáo khai mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch ở bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU1. Quá trình điều tra, không xác định được người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lò Văn Th và Lò Văn Nh là những người đã gặp Phàn Văn C tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU1 và Th là người đã mua con dao của C với giá 50.000 đồng, sau đó C dùng số tiền đó để đi mua Heroine sử dụng. Quá trình điều tra xác định, việc C đi mua và cất giấu Heroine trên người thì Th và Nh đều không biết. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TU không đề cập xử lý là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tạị Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàn Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2022. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư Công an huyện TU, màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 0,08 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu hồng
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 13/02/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU với Chi Cục thi hành án dân sự huyện TU)
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện TU; - Chi Cục THADS huyện TU; - Công an huyện TU; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký, ghĩ rõ họ tên) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh (Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu) |