- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bang Quang Ngoc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bàng Quảng N - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 19/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣơng Đức Long;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Văn Thuyết - Cán bộ nghỉ hưu;
2. Ông Nguyễn Ngọc Ngư - Cán bộ nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Hoa– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại hội trường UBND xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST
- HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàng Quảng N, tên gọi khác không, sinh 06/10/1959 tại xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
Nơi cư trú và chỗ ở: xóm Đ, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu.Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Họ và tên bố: Bàng Quốc Kh - đã chết; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K – sinh năm 1934; Vợ: Nguyễn Thị Dần – sinh năm 1962; Có 03 con.
Tiền án;Tại Bản án số 21/2018/ HSST ngày 10/5/2018 của TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Bàng Quảng N 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2010 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời hạn 18 tháng.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2023. Hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến B, sinh năm 1957, Địa chỉ: Xóm 9, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Chị Hoàng Thị Thái N - 1995. Địa chỉ: Xóm C, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 12/01/2023, tổ công tác Công an xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương làm nhiệm vụ tại xóm C, xã C, phát hiện Bàng Quảng N có biểu hiện nghi liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra N tự giác giao nộp 01 gói chất bột trắng, được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng, nghi là ma tuý ( N khai nhận là ma tuý loại Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N. Số chất bột màu trắng được niêm phong theo quy định. Công an xã Cổ Lũng đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương để điều tra theo thẩm quyền. Khám xét khẩn cấp nơi ở của N, không phát hiện thu giữ gì.
Cùng ngày, tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, cân xác định 01 gói chất bột màu trắng, được niêm phong thu giữ của N có khối lượng 0,067 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 20/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, có khối lượng là 0,067gam.
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của bị can như sau: Bàng Quảng N là người nghiện ma túy và đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/01/2023, N điều khiểm xe mô tô BKS 20E1 - 436.06 từ nhà đến nhà ông Nguyễn Tiến B – sinh năm 1957, trú tại xóm 9, xã C với mục đích mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nhà B thấy B đang ở nhà nên N hỏi mua ma túy của ông B. N đã mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy N cất vào túi quần bên trái và điều khiển xe máy về nhà. Khi đi đến đường rẽ vào UBND xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương thì bị Công an xã Cổ Lũng phát hiện, bắt quả tang cùng gói ma túy vừa mua chưa sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 30/CT - VKSPL ngày 24/4/2023, Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bàng Quảng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bàng Quảng N phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Bàng Quảng N mức án từ 18 đến 24 tháng tù.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh tụng: Bị cáo không có tranh tụng gì.
Bị cáo nói lời sau cùng xin HĐXX giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ buộc tội:
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/01/2023, bị cáo điều khiểm xe mô tô BKS 20E1- 436.06 từ nhà đến nhà ông Nguyễn Tiến B – sinh năm 1957, trú tại xóm 9, xã C với mục đích mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nhà ông B bị cáo hỏi mua ma túy của ông B 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất vào túi quần bên trái và điều khiển xe máy về nhà. Khi đi đến đường rẽ vào UBND xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương thì bị Công an xã Cổ Lũng phát hiện, bắt quả tang.
- Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của người chứng kiến.
- Kết luận giám định xác định gói chất bột màu trắng thu giữa của N là ma túy, loại Heroin có khối lượng là 0,067 gam.
- Biên bản đối chất với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Như vậy Bàng Quảng N có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, có hành vi tàng trữ 0,067 gam ma túy . Hành vi đó đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
a)… đã bị kết án về tội này…, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Xét tính chất của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vì nghiện ma túy nên đã tàng trữ để sử dụng.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
Nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, năm 2010 bị cáo đã đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thời hạn 18 tháng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là người phạm tội thành khẩn khai báo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có 01 tiền án nhưng tiền án này là tình tiết định tội nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Về hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội với lỗi cố ý nên cần phải xử bị cáo mức án 20 tháng tù như đề nghị của VKS là phù hợp,
Về hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người cao tuổi nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Số vật chứng là ma túy và vỏ giấy gói cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Về chiếc xe máy BKS 20E1- 436.06 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này theo lời khai của bị cáo người bán ma túy cho N là Nguyễn Tiến B. Tuy nhiên B không thừa nhận, khám xét nơi ở của B không thu giữ được vật chứng, qua đối chất B không thừa nhận nen không đủ cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Tiến B.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Bàng Quảng N - phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136; 329; 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội .
Xử phạt: Bị cáo Bàng Quảng N : 20 (Hai mươi) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/01/2023.
Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1; A2.
- Tạm giữ của bị cáo 01 xe máy Nhãn hiệu Honda WAVE. Số máy JA39E2615657, số khung RLHJA3927NY118725. BKS 20E1- 436.06 để đảm bảo việc thi hành án dân sự.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2023 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương).
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phú Lương; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - THADS huyện Phú Lương; - Công an huyện Phú Lương; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - THAHS- Công an tỉnh TN; - UBND xã Cổ Lũng; - Bị cáo; - Lưu Hs, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Đức Long |