vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Ngô Duy G 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/01/2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam chất bột của mẫu M1; 2,84 gam tinh thể của mẫu M2; 3,17 gam tinh thể của mẫu M3; 0,64 gam tinh thể của mẫu M4 (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Duy G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Duy G 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/01/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị M Phương

Bà Khúc Thị M

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Ngô Duy G, sinh ngày 26/02/1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Duy M1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956; có vợ là Bùi Thị H2, sinh năm 1983 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2023 đến ngày 01/02/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Minh N, sinh năm 1975; là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 20/01/2023, G đi taxi từ nhà đến khu vực đường tàu thuộc quận L, Hải Phòng mua ma túy của người đàn ông không quen biết để sử dụng. G dùng 2.000.000 đồng mua được 03 túi nilon bên trong chứa ma túy “đá” và dùng 500.000 đồng mua được 02 túi nilon bên trong chứa ma túy Heroine. G đem số ma túy về nhà, rồi chia số ma túy “đá” thêm ra 02 túi nilon nữa, cất giấu ở nhà để sử dụng dần. Đến 11 giờ 20 phút ngày 30/01/2023, khi G đang ở nhà cùng Bùi Văn M, Lê Thị Thùy T, Phạm Thị H đến chơi thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện thu giữ tại phòng ngủ của G 02 túi nilon màu trắng cùng kích thước 2x2,5(cm), bên trong có chất bột màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu M1).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của G, thu giữ tại ngăn kéo bàn uống nước phòng khách 01 túi nilon kích thước 4x7(cm), bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy “đá” (ký hiệu M2); thu tại thành bể giáp với nhà bếp 02 túi nilon kích thước 4x7(cm), 01 túi nilon kích thước 2x2(cm), bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy “đá” (ký hiệu M3); thu tại lỗ thoáng nhà bếp 01 túi nilon kích thước 2x2(cm), bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy “đá” (ký hiệu M4). Toàn bộ số vật chứng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo vụ án.

Kết luận giám định số 162/KL-KTHS(MT) ngày 01/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,21 gam, loại Heroine. Tinh thể màu trắng của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,05 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng của mẫu M3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,40 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng của mẫu M4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,72 gam, loại Methamphetamine.

Số vật chứng còn lại gồm: 0,13 gam chất bột của mẫu M1; 2,84 gam tinh thể của mẫu M2; 3,17 gam tinh thể của mẫu M3; 0,64 gam tinh thể của mẫu M4 (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 162MT/PC09 chuyển Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS-KT ngày 24/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Ngô Duy G mức án từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam chất bột của mẫu M1; 2,84 gam tinh thể của mẫu M2; 3,17 gam tinh thể của mẫu M3; 0,64 gam tinh thể của mẫu M4 (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 162MT/PC09.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận. Người bào chữa cho bị cáo ông Trần M N trình bày ý kiến: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nguyên nhân, điều kiện phạm tội để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là đối tượng thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo nói lời sau cùng rất ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 30/01/2023, tại nhà Ngô Duy G ở thôn T1, xã T, huyện K, Ngô Duy G đã có hành vi cất giấu trái phép 0,21 gam ma túy Heroine và 7,17 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo Ngô Duy G đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Cộng khối lượng của 0,21 gam ma túy Heroine và 7,17 gam ma túy Methamphetamine, xác định tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 7,38 gam. Đối chiếu tổng khối lượng của 02 chất ma túy tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy hành vi của bị cáo G thuộc tình tiết định khung tại điểm n khoản 2 là “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm m khoản này”. Do đó, bị cáo G bị xét xử tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây nên tệ nạn ma túy. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; có bố mẹ đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc; có bố đẻ được tặng kỷ niệm chương thanh niên xung phong và là người khuyết tật nặng. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định, không có tài sản riêng, tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo có cơ sở được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: 0,13 gam chất bột của mẫu M1; 2,84 gam tinh thể của mẫu M2; 3,17 gam tinh thể của mẫu M3; 0,64 gam tinh thể của mẫu M4 (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 162MT/PC09 là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành; cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy cho G, nên Quyết định tách ra để điều tra xử lý sau là đúng pháp luật. Bùi Văn M, Lê Thị Thùy T, Phạm Thị H đến nhà Ngô Duy G chơi vào sáng ngày 30/01/2023, không biết việc G tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp hộ cận nghèo, đã có đơn đề nghị miễn án phí, nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Ngô Duy G 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/01/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam chất bột của mẫu M1; 2,84 gam tinh thể của mẫu M2; 3,17 gam tinh thể của mẫu M3; 0,64 gam tinh thể của mẫu M4 (còn lại sau giám định) cùng toàn bộ vỏ bao gói của 04 mẫu được niêm phong trong một bì giấy, dấu niêm phong số 162MT/PC09 (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

- Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ