- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 20/02/2023 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Minh Côn
2. Ông Trần Văn Mỳ
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng ThAh, Thư ký TAD huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến, Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại TAD huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V, sinh ngày 13 tháng 6 năm 1983.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm K 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12 Nghề nghiệp: Tự do. Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết). Con bà: Mai Thị Hồng S sinh năm 1954. Gia đình có 04 Ah em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2022 cho đến nay, hiện đAg bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công A huyện Đ - Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA:
Ah Nguyễn Văn A, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Trú tại: Xóm Non Bẹo, xã La Bằng, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người chứng kiến: Ông Ngô Văn M, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Trú tại: Xóm Q, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 15 phút ngày 05/10/2022 Công A xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại bãi chè nhà ông Nguyễn Văn K, trú tại: xóm K 1, xã B, huyện Đ có 01 đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công A xã B đã đến khu vực bãi chè nhà ông Kiều để kiểm tra thì nam thAh niên khai nhận họ và tên là Nguyễn Văn V rồi V rồi lấy từ túi áo ngực bên trái đAg mặc ra 01 vỏ bao thuốc lá du lịch màu đỏ đen trắng, bên trong vỏ bao thuốc lá có 01 túi ni lông màu xAh, bên trong túi ni lông màu xAh có 06 gói chất bột màu trắng gói bằng giấy màu trắng (V khai là ma túy, loại Heroine của V) giao nộp cho Tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tAg, thu giữ vật chứng là 06 gói nghi là ma túy có đặc điểm nêu trên, 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen của V theo quy định.
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm Công A xã B đã chuyển hồ sơ cùng đối tượng, vật chứng đến Cơ quA CSĐT Công A huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ các tài liệu thu thập được, hồi 17 giờ 00 phút ngày 05/10/2022 Cơ quA Cảnh sát điều tra, Công A huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với V, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 17 giờ 30 ngày 05/10/2022 Cơ quA Cảnh sát điều tra, Công A huyện Đ đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn V trong phong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng: 0,371 gam. Lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 1612 /KL-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công A tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ bA đầu là 0,371 gam.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 thu giữ của V hiện đAg được bảo quản, lưu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSĐT ngày 16/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn V về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên tòa ngày hôm nay đại diện VKSND huyện Đ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS năm 2015.
Xử phạt bị cáo V mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí HSST cho bị cáo V (hộ nghèo).
Bị cáo không có ý kiến trAh luận tại phiên tòa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về cùng gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1}. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điểu tra Công A huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo đã nảy sinh ý định đi mua chất ma túy về để sử dụng cho bản thân và bán lẻ cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04/10/2022 bị cáo một mình đi từ nhà đến khu vực xã Phú Thịnh, huyện Đ mục đích tìm mua chất ma túy. Khi bị cáo đi đến cầu Phú Thịnh thuộc xóm Phố, xã Phú Thịnh, huyện Đ thì bị cáo gặp và mua của một người đàn ông không quen biết lai lịch và địa chỉ 06 gói ma túy, loại Heroine, (mỗi gói được gói bằng giấy màu trắng) gói trong túi nilong màu xAh để trong bao thuốc lá du lịch màu đỏ đen trắng với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, bị cáo để vào trong túi áo ngực bên trái đAg mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ ngày 05/10/2022 bị cáo nhận được điện thoại của Nguyễn Văn A, Sinh năm: 1993, Trú tại: xóm Non Bẹo, xã La Bằng, huyện Đ hỏi mua của bị cáo 200.000đ tiền Heroine. Bị cáo đồng ý và mAg toàn bộ số Heroine của bị cáo đến khu vực bãi chè nhà ông Nguyễn Văn Kiều để bán cho A. Khi bị cáo chưa kịp bán Heroine cho A thì bị Công A xã B phát hiện.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn V phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tAg, lời khai của người chứng kiến (BL 56 - 59), lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA (BL 60 - 61), vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/10/2022, tại khu vực bãi chè nhà ông Nguyễn Văn Kiều thuộc xóm K 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn V đAg thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,371 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để bán cho đối tượng nghiện khác kiếm lời thì bị Tổ công tác công A xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tAg, thu giữ vật chứng.
Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của BLHS.
Nội dung các điều luật được quy định cụ thể như sau:
Điều 251 BLHS:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm…”
{3}. Xét tính chất hành vi của bị cáo:
Xét về tính chất hành vi của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất A ninh, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng. Như chúng ta biết ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng nó làm cho con người lệ thuộc vào nó, làm cho con người mất nhân cách và là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Chính vì thế nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
{4}. Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ là bà Mai Thị Hồng S được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại điều 52 Bộ luật hình sự.
{5}. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo xuất thân từ gia đình thuần nông, chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người nghiện ma túy nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội.
{5}. Về hình phạt: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù.
Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo vì bị cáo thuộc diện hộ nghèo của xã B.
{6}.Về vật chứng:
+ 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. Xét thấy đây là vật chứng liên quA đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 là tài sản của bị cáo V dùng để giao dịch cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
{7}. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Liên quA đến vụ án còn có Nguyễn Văn A ngày 05/10/2022 có hành vi gọi điện thoại cho V để hỏi mua 200.000 đồng Heroine của V để sử dụng nhưng A chưa mua được Heroine của V. Hiện nay A vắng mặt khỏi địa phương, không xác định được ở đâu. Hành vi của A không cấu T tội phạm do vậy Cơ quA CSĐT Công A huyện Đ không xem xét xử lý đối với Nguyễn Văn A.
Về nguồn gốc số ma túy loại Heroine ngày 04/10/2022 V khai mua Heroine của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Phú Thịnh, thuộc xã Phú Thịnh, huyện Đ mục đích để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời cho Nguyễn Văn A. Do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông bán Heroine cho V nên Cơ quA cảnh sát điều tra Công A huyện Đ không có căn cứ để điều tra xử lý đối với người đàn ông trên.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS năm 2015. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
* Tuyên bố: Nguyễn Văn V phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Văn V 27 (hai mươi bẩy) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/10/2022. Quyết định tạm giam bị cáo V 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
+ Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 thu giữ của bị cáo V được niêm phong trong phong bì ký hiệu A3.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ - VKS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).
* Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V (hộ nghèo).
Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quA biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản A được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAD tỉnh Thái Nguyên (1b); - Công A huyện Đ (3b); - VKSND huyện Đ (1b); - VKSND tỉnh Thái Nguyên(1b); - Chi cục THADS H. Đ (1b); - THAHS (2b); - Bị cáo (1b); - Lưu hồ sơ (1b). | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Duy Khánh |