vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 của Bộ luật dân

sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 của Bộ luật dân
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2023/HS-ST

HUYỆN CAM LỘ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày 30 – 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Vĩnh Hiền 2. Ông Phạm Văn Bình - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thùy Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đại - Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Khắc T, tên gọi khác: L; sinh ngày 24 tháng 6 năm 1996 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn T, xã c, huyện l, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tùng L, sinh năm 1968 và bà Trương Thị Mỹ L1, sinh năm 1974; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Về nhân thân: - Năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị kết án 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 30/4/2019 (bản án số 71/2018/HS-ST ngày 31/10/2018). - Ngày 25/5/2023, bị Công an huyện Cam Lộ xử phạt 1.000.000 đồng về về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/3/2023 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Anh Phan Phước Q, sinh năm 1992 (đã chết). Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Phan Phước T, sinh năm 1955 (bố anh Q); bà Thái Thị S, sinh năm 1957 (mẹ anh Q); chị Phạm Thị Phương T1, sinh năm 1993 (vợ anh Q); cháu Phan Thị Thu T2, sinh năm 2017 (con anh Q); cháu Phan Phước K, sinh năm 2019 (con anh Q); cùng địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Người đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện hợp pháp: chị Phạm Thị Phương Thảo (vợ anh Q), có mặt tại phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: - Anh Nguyễn Công H, sinh năm 1994, vắng mặt. - Anh Trương Văn T3, sinh năm 1979, vắng mặt. Đều trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Người làm chứng: - Anh Võ Quang H1, sinh năm 1998; trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt. - Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1987; trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 00 ngày 24/01/2023, Nguyễn Khắc T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 74C1-276.10 chở anh Nguyễn Công Hiệp, sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị đến quán ChillZone, thuộc Khu phố M, Phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị uống bia, sau đó đi hát Karaoke. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô chở anh Hiệp về nhà, khi đến Km 09+200 Quốc lộ 9, thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị thì phát hiện phía trước khoảng 30-40 m có xe mô tô BKS 74C1- 189.60 do anh Phan Phước Q, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị điều khiển, di chuyển theo hướng huyện L – thành phố Đ, chạy sang làn đường bên phải theo hướng thành phố Đ – huyện L nên T điều khiển xe mô tô lách tránh sang bên trái, lấn sang làn đường dành cho xe đi ngược chiều để tránh, cùng lúc này anh Q cũng điều khiển xe mô tô về lại làn đường bên phải, theo hướng đi của mình, dẫn đến va chạm với xe mô tô của T gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Anh Phan Phước Q chết trên đường đi cấp cứu. Nguyễn Khắc T bị gãy ngón tay út của bàn tay phải, Nguyễn Công H bị xây xát, 02 xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Sau khi tai nạn xảy ra, Nguyễn Khắc T được chở lên Bệnh viện đa khoa huyện Cam Lộ để chữa trị vết thương nhưng T sợ người nhà của anh Q nên không vào bệnh viện. Sau đó, T được chở lên nhà chị Trương Thị T5, sinh năm 1966, trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Quảng Trị, sau đó thì đến căn nhà hoang ở gần nhà ngủ lại tại đó. Đến sáng 25/01/2023, T đến cơ quan Công an làm việc. Anh Nguyễn Công H, đứng tại hiện trường khoảng 15 phút thì được một người quen chở về nhà.

Tại Bản kết luận giám định số: 250/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: + Vị trí va chạm giữa hai phương tiện trong vụ tai nạn giao thông nói trên là: Phần trước bên phải xe mô tô 74C1-189.60 gồm các bộ phận: đai ốc định vị phuộc, cánh mang va chạm với phần bên phải xe mô tô 74C1-276.10 gồm các bộ phận: ốp nhựa phía dưới gác để chân, cánh mang. + Xe mô tô BKS 74C1-189.60 tác động so với xe mô tô BKS 74C1- 276.10 theo chiều hướng từ trước ra sau trong trạng thái xe mô tô BKS 74C1- 189.60 chuyển động theo hướng đi từ Cam Lộ đến Đông Hà còn xe mô tô BKS 74C1-276.10 chuyển động theo hướng ngược lại. + Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74C1-276.10 với xe mô tô BKS 74C1-189.60 trên hiện trường là: khu vực điểm đầu dấu vết đánh số (2) (được mô tả và ghi nhận trong hồ sơ khám nghiệm hiện trường) thuộc phần đường có hướng đi từ Cam Lộ đến Đông Hà. Tại Bản kết luận giám định số: 261/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: + Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong đoạn video gửi đến giám định. + Mô tả diễn biến vụ tai nạn giao thông trong đoạn video gửi đến giám định: Xe 1 (BKS 74C1-276.10) di chuyển theo hướng Đ - L, trên làn đường bên phải theo hướng Đ - L, xe 2 (BKS 74C1-189.60) di chuyển theo chiều ngược lại; Xe 1 tiếp tục di chuyển theo hướng Đ - L và di chuyển sang phía bên trái vạch kẻ tim đường, xe 2 tiếp tục di chuyển theo hướng L – Đ và di chuyển sang phía bên phải vạch kẻ tim đường; Xe 1 tiếp tục di chuyển theo hướng Đông Hà - Cam Lộ và tiếp tục di chuyển sang phía bên trái vạch kẻ tim đường, xe 2 tiếp tục di chuyển theo hướng L – Đ và di chuyển sang phía bên trái vạch kẻ tim đường; Xe 1 và xe 2 va chạm với nhau phía bên trái vạch kẻ tim đường. - Tại Bản kết luận giám định số: 190/KL-KTHS ngày 14/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: Nồng độ cồn trong máu của anh Phan Phước Q là 241 mg/100ml. - Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 157/KL-KTHS ngày 06/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: Nguyên nhân chết của anh Phan Phước Q là đa chấn thương. - Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 88/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng Trị, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khắc T tại thời điểm giám định là: 05%. - Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-ĐGTS ngày 21/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cam Lộ xác định: + Xe mô tô biển kiểm soát 74C1-276.10 bị thiệt hại 4.850.000 đồng; + Xe mô tô biển kiểm soát 74C1-189.60 bị thiệt hại 2.670.000 đồng.

- Tại phiếu xét nghiệm ngày 25/01/2023 của Trung tâm y tế huyện Cam Lộ, nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Khắc T là: 1,0 mmol/l (tương đương 4,608mg/100ml). Tại Bản cáo trạng số: 23/CT-VKSCL ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Khắc T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đề nghị: - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T từ 15 – 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, không xử phạt bổ sung đối với bị cáo. - Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 250.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 70.000.000 đồng, số tiền 180.000.000 đồng còn lại ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên: Bị cáo bồi thường 1.500.000 đồng/tháng, trả vào ngày 10 hàng tháng cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù thì tiếp tục bồi thường 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi bồi thường xong. - Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe. - Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khắc T khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: Bị cáo thừa nhận sau khi sử dụng bia đã điều khiển xe mô tô BKS 74C1-276.10 chở anh Hiệp đi theo hướng Đ – L đến Km 09+200 Quốc lộ 9, thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị thì phát hiện phía trước khoảng 30- 40 m có xe mô tô BKS 74C1-189.60 do anh Phan Phước Q điều khiển, di chuyển theo hướng L - Đ, chạy sang làn đường bên phải theo hướng Đ – L nên T điều khiển xe mô tô lách sang bên trái, lấn sang làn đường dành cho xe đi

ngược chiều để tránh, cùng lúc này anh Q cũng điều khiển xe mô tô về lại làn đường bên phải, theo hướng đi của mình, dẫn đến va chạm với xe mô tô của T gây tai nạn làm anh Phan Phước Q chết. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ nên có căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông nồng độ cồn trong trong máu của Nguyễn Khắc T là 4,608mg/100ml, đã vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019). Hành vi của bị hại anh Phan Phước Q có lỗi chạy lấn làn đường, điều khiển xe trong máu có nồng độ cồn, vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019). Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Điều luật có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới tính mạng của người khác, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, nên cần xét xử bị cáo nghiêm đối với bị cáo. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; bị hại cũng có lỗi, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo từng phục vụ trong quân đội và được tặng giấy khen. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. [5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị hại cũng có lỗi tuy nhiên bị cáo điều khiển xe trong tình trạng có nồng độ cồn trong máu gây hậu quả làm chết 01 người; là đối tượng đang sử dụng ma túy nên xét thấy cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để răn đe đối với bị cáo. Tuy nhiên, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo. [6] Về trách nhiệm dân sự: [6.1] Anh Trương Văn T3 chủ xe mô tô BKS 74C1-276.10 hỗ trợ cho bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để bồi thường cho gia đình bị hại. Anh T3 không có yêu cầu gì đối với số tiền đã hỗ trợ và cũng không yêu cầu bồi thường đối với xe mô tô BKS 74C1-276.10 bị hư hỏng. [6.2] Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 250.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 70.000.000 đồng. Số tiền 180.000.000 đồng còn lại bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại chị Phạm Thị Phương T2 đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận: Bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại 1.500.000 đồng/tháng, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi bồi thường xong. Thời gian bồi thường chậm nhất vào ngày mồng 10 hàng tháng. Đối với thiệt hại của xe mô tô BKS 74C1-189.60 chị T2 không yêu cầu bồi thường.

Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án: cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, màu sơn đen, biển kiểm soát 74C1-189.60; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại SH, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 74C1-276.10; 01 mảnh vỡ nhựa màu đỏ của cánh mang xe mô tô, kích thước 75x23cm; 01 mảnh vỡ nhựa màu đen của dè chắn bùn xe mô tô, kích thước 48x52cm; 01 mảnh vỡ nhựa, kim loại của ốp ống xả xe mô tô, kích thước 59x16cm; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 01723 của xe mô tô biển kiểm soát 74C1-276.10; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 450162001492 của Nguyễn Khắc T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô, số: 22XMP220286186 của xe mô tô biển kiểm soát 74C1-276.10; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 011493 của xe mô tô biển kiểm soát 74C1-189.60. Hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng pháp luật nên không xem xét lại. Hiện còn lại 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 450162001492 của Nguyễn Khắc T, do không cấm lái xe đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo. [8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Khắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận với nhau trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 của Bộ luật dân sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Khắc T (L) phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc T 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. 2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khắc T 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 450162001492 mang tên Nguyễn Khắc T (hiện đang được lưu giữ tại hồ sơ vụ án). 3. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại chị Phạm Thị Phương T2: chậm nhất vào ngày mồng 10 hàng tháng (bắt đầu từ tháng 10/2023) bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp là chị Phạm Thị Phương T2 số tiền: 1.500.000

đồng/tháng, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi bồi thường xong số tiền 180.000.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. 4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Khắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ