- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Pháp phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày: 03-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tám
Bà Nguyễn Thị Hưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh L tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn P, tên gọi khác: K Bê Đê, sinh năm 2000 tại L. Nơi thường trú và chỗ ở: Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh L; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1969, bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 27/5/2020, Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 24/QĐ-TA, thời gian là 24 tháng, đến ngày 10/4/2022 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2022 cho đến nay, có mặt tại Tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Lê Tấn K, sinh năm 1998
Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh L (vắng mặt)
- Người làm chứng:
Huỳnh Lên K, sinh năm 2003
Địa chỉ: Ấp 4, xã L, huyện B, tỉnh L (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/11/2022, do cần ma túy sử dụng Nguyễn Tấn P đi đến Chợ Căn Cứ ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên H (không rõ lai lịch) mua 02 gói ma túy đá với giá 500.000đ đem về nhà ở Ấp 4, xã L, huyện B cất giấu. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 01/12/2022, Pháp gọi điện thoại cho Lê Tấn K đến nhà đón Pháp đi chơi, trước khi đi Pháp lấy 02 gói ma túy đá cất trong túi quần Jean phía trước bên trái đang mặt để sử dụng, việc giấu ma túy thì Kiệt không biết. Đến khoảng 01 giờ 15 phút, Kiệt điều khiển xe mô tô biển số 62K8-6498 chở Pháp đến khu vực Ấp 1, xã L, huyện B ngồi chơi thì lực lượng Công an xã L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang trong túi quần Jean phía trước bên trái đang mặt của Phát cất giấu 01 túi nylon có rãnh khép và 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng (lực lượng Công an đã lập biên bản thu giữ, niêm phong theo quy định).
Tại Kết luận giám định số 1119/KL-KTHS ngày 05/12/2022 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh L, kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nylon có rãnh khép và 01 gói nylon hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,2237 gam, loại Methamphetamine.
Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,9562 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong số 1119 (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ).
Tại cáo trạng số 22/CT-VKSBL ngày 03/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn P hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo xác định việc bị cáo rủ Kiệt đi chơi không nhằm mục đích sử dụng ma túy. Kiệt hoàn toàn không biết bị cáo có ma túy. Viện Kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt
Bị cáo Nguyễn Tấn P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Đối với Lê Tấn K có hành vi chở Nguyễn Tấn P đi chơi, việc Pháp cất giấu ma túy trong người Kiệt hoàn toàn không biết nên Cơ quan CSĐT không xử lý đối với Kiệt là phù hợp.
Đối với người thanh niên tên H (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho Nguyễn Tấn P, qua quá trình điều tra Pháp cung cấp thông tin đối với người thanh niên trên không đủ cơ sở xác minh, CQĐT sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Về vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,9562 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong số 1119 nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định chất ma túy và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Tấn P là đối tượng nghiện ma túy nên 01 giờ 15 phút ngày 01/12/2022, lực lượng Công an xã L tiến hành kiểm tra Nguyễn Tấn P, Lê Tấn K đang ngồi chơi tại khu vực Ấp 1, xã L, huyện B, phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên trái đang mặt của Phát cất giấu 01 túi nylon có rãnh khép và 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 2,2237 gam. Số ma túy trên Pháp mua vào ngày 30/11/2022 của người tên H (không rõ lai lịch) ở khu vực chợ Căn Cứ, quận G, thành phố H với giá 500.000đ mục đích để sử dụng. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cũng thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo mua ma túy về cất giấu trái phép, mục đích để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra bệnh HIV, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần áp dụng hình phạt buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với Lê Tấn K có hành vi chở Nguyễn Tấn P đi chơi, việc Pháp cất giấu ma túy trong người Kiệt hoàn toàn không biết nên Cơ quan CSĐT không xử lý đối với K là phù hợp nên không xét đến.
Đối với người thanh niên tên H (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho Nguyễn Tấn P, qua quá trình điều tra Pháp cung cấp thông tin đối với người thanh niên trên không đủ cơ sở xác minh, CQĐT sẽ tiếp tục làm rõ xử lý sau là phù hợp nên không xét đến.
Về vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,9562 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong số 1119 nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 01/12/2022.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Tấn P trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 03-3-2023 để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1.9562 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong số 1119.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Tấn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Long An;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở tư pháp tỉnh Long An;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện B;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B;
- Nhà tạm giữ Công an huyện B;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện B;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
Lê Hùng Cường
Hội thẩm nhân dân
Chủ tọa phiên tòa
Lê H Cường Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh L;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở tư pháp tỉnh L;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện B;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B;
- Nhà tạm giữ Công an huyện B;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện B;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
Lê H Cường
Hội thẩm nhân dân
Chủ tọa phiên tòa
Lê H Cường
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh L; - Sở tư pháp tỉnh L; - Viện kiểm sát nhân dân huyện B; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B; - Nhà tạm giữ Công an huyện B; - Chi cục thi hành án dân sự huyện B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê H Cường |