- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Quốc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Quốc H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 12 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Thảo
2. Nguyễn Văn Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Bàn Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 12/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/LTST-HS ngày 26/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 31/5/2023 đối với bị cáo:
Nông Quốc H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 31/10/1972 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H và bà Lý Thị T; vợ là Nông Thị L, con: Có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ ngày 13/01/2023, tại thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác Công an huyện B bắt quả tang Nông Quốc H (sinh năm 1972; trú tại thôn B, xã T, huyện B) đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, H tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 gói nhỏ được gói bằng túi nilon màu trắng. Kiểm tra cụ thể, bên trong túi nilon màu trắng có chứa 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu bạc, bên trong 02 gói nhỏ đều chứa chất màu trắng lẫn màu hồng. Tiến hành thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy đối với 02 gói nhỏ trên cho kết quả phản ứng dương tính với ma túy, loại Heroine. Sau khi thử phản ứng, Tổ công tác tiến hành gói lại như lúc ban đầu và niêm phong vào trong phong bì ký hiệu “H”.
Ngày 13/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H nhưng không thu giữ được gì. Cùng ngày, CQCSĐT Công an huyện B tiến hành cân số chất màu trắng lẫn màu hồng thu giữ của Hùng niêm phong trong phong bì ký hiệu “H” có khối lượng 0,140g. Sau khi cân, toàn bộ số chất trên được gói trong mảnh giấy màu trắng và niêm phong trong phong bì ký hiệu “GĐ” gửi đi giám định.
Tại Kết luận giám định số 41/KL-KTHS ngày 19/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: Mẫu chất màu trắng lẫn màu hồng trong phong bì ký hiệu “GĐ” gửi giám định là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, có khối lượng là 0,140g.
Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKSBT ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông truy tố đối với Nông Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy từ tháng 10/2022. Khoảng 8 giờ ngày 13/01/2023, H đi bộ từ nhà tại thôn B, xã T, huyện B ra khu vực cầu Suối To thuộc thôn K, xã T, huyện B đón xe khách xuống thành phố B1 với mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực cây xăng Tuấn Viết thuộc phường H, thành phố B1, H xuống xe và đi bộ một đoạn gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 40 tuổi. H hỏi và mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H đón xe khách quay về nhà. Khi đến khu vực cầu Suối To, H xuống xe, đi bộ đến vệ đường chia gói ma túy vừa mua được thành 02 gói nhỏ rồi tiếp tục đi bộ về nhà. Khi H đi đến thôn Q, xã T thì bị bắt quả tang. Bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng đã truy tố, không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Nông Quốc H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Không đề nghị áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T29” bên trong có 0,110g ma túy, loại Heroine và Methamphetamine cùng bao gói cũ và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu GĐ; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có hai mảnh giấy một mặt màu bạc, một mặt màu trắng; một mảnh nilon màu trắng; một mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng (loại giấy ăn) và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H”.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định: Do sử dụng chất ma túy nên vào hồi 10 giờ ngày 13/01/2023 tại khu vực thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, Nông Quốc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,140g ma túy, loại Heroine và Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo được thực hiện khi bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, là nguyên nhân gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương. Do đó, Cáo trạng số 18/CT-VKSBT ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông truy tố Nông Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………
i, Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
………
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì; có bố đẻ là Nông Văn H được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần buộc bị cáo chấp hành án tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo, tính răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H vào ngày 13/01/2023 theo lời khai của H nhưng do H không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh.
. Vật chứng: 01 phong bì niêm phong ký hiệu “T29” bên trong có 0,110g ma túy, loại Heroine và Methamphetamine cùng bao gói cũ và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “GĐ” do cơ quan giám định hoàn trả; 01 phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có hai mảnh giấy một mặt màu bạc, một mặt màu trắng; một mảnh nilon màu trắng; một mảnh nilon màu hồng; một mảnh giấy màu trắng (loại giấy ăn) và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H”. Tất cả là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo không thuộc diện được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nông Quốc H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nông Quốc H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “T29” bên trong có 0,110g ma túy, loại Heroine và Methamphetamine cùng bao gói cũ và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “GĐ”; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “VC” bên trong có hai mảnh giấy một mặt màu bạc, một mặt màu trắng; một mảnh nilon màu trắng; một mảnh nilon màu hồng; một mảnh giấy màu trắng (loại giấy ăn) và phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu “H”.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 26/4/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).
- Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện B; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Công an huyện B; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện B; - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thế Doanh |