- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 13/12/2022).
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-PT Ngày 29 - 6 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Việt và ông Ma Hồng Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 34/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Văn S, sinh ngày 06/7/1974, tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Phạm Văn T và con bà Vũ Thị L (đều đã chết); vợ: Đồng Thị P, sinh năm 1977; Có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2006.
Tiền án: Ngày 16/3/2021 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Bản án số 17/2021/HS-ST), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù này 25/01/2022, chưa được xoá án tích;
Tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 19/8/2016 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Bản án số 36/2016/HSST), bị cáo chấp hành xong bản án ngày 09/02/2018
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn S đã có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Sáng ngày 13/12/2022, S một mình đi bộ đến khu vực đập thủy điện ICT huyện C thuộc thôn B, xã N, huyện C để tìm mua chất ma túy về sử dụng. Khi đến nơi S mua được 01 gói nhỏ Heroine dạng bột được gói bằng giấy bạc màu vàng của người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Mua được chất ma túy S cất vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tại khu vực thôn Đ, xã P, huyện C, nghi ngờ S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã đưa S về trụ sở Công an xã P để làm việc và mời người chứng kiến cùng tham gia. Quá trình làm việc S tự giác giao nộp gói Heroine nêu trên, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng (lúc này khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày). Hồi 13 giờ 50 phút ngày 13/12/2022, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Phạm Văn S, kết quả: (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể. Kết luận giám định số 1547/GĐKTHS ngày 17/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (Hêrôin); khối lượng 0,043g (không phẩy không bốn ba gam).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 13/12/2022).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30 tháng 4 năm 2023, bị cáo Phạm Văn S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn S giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật; đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định; thủ tục giải quyết vụ án đúng trình tự tố tụng.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình tình tiết mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của bị cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang, về hình phạt như sau:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 13/12/2022).
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận.
Khi được Hội đồng xét xử cho phép nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sớm trở về với xã hội và sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Văn S tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 13/12/2023, tại thôn Đ, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, Phạm Văn S đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý loại heroine có khối lượng 0,043g (Không phẩy không bốn ba gam) mục đích để sử dụng. Khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ dưới mức định lượng nhưng bị cáo có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục cố tình vi phạm pháp luật gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Phạm Văn S 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuy nhiên tại cấp phúc thẩm bị cáo Phạm Văn S không xuất trình tình tiết mới chứng minh cho nội dung kháng cáo của bị cáo, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn S, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Phạm Văn S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn S, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang đối với bị cáo Phạm Văn S về phần hình phạt bị kháng cáo như sau:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 13/12/2022).
Bị cáo Phạm Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (29/6/2023).
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh T.Quang; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh TQuang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - CQCSĐT Công an huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hương |