- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Ty - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-PT Ngày: 18/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Công.
Các Thẩm phán: Ông Cao Thiện Vinh và Ông Nguyễn Văn Được
Thư ký phiên tòa: Bà Hán Thị Hồng Đào
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hòa Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại Phòng xét xử số 2, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Trần Ngọc T và Đại diện hợp pháp của người bị hại Trần Thị D, do có kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2022/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị cáo:
Họ và tên: TRẦN NGỌC T - sinh năm 1958, tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Nông, hiện là Trưởng thôn Thủy Lợi; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); vợ Nguyễn Thị H - sinh năm: 1962 và có 05 người con, lớn nhất 41 tuổi nhỏ nhất 22 tuổi; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (có mặt tại phiên tòa).
- Đại điện hợp pháp của người bị hại (ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1970
- đã chết): Bà Trần Thị D, sinh năm 1970 (là vợ của ông Q),(có mặt).
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Ngoài ra, còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Ngọc T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 22/9/2015. Khoảng 8 giờ 54 phút ngày 15/7/2022, Trần Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 85D1 - 160.28 chở bà Nguyễn Thị Kim M ngồi sau lưu thông trên tuyến Quốc lộ A hướng P - T. Khi đến Km 1548+800 thuộc thôn H, xã H, T điều khiển xe chạy trên làn đường số 2 tính từ lề đường vào trong với tốc độ khoảng 30km/h, phía sau có xe mô tô biển số 85C1-196.74 do ông Nguyễn Minh Q điều khiển chạy cùng chiều trên làn đường số 1 sát lề đường. Sợ các phương tiện phía sau chạy tới tung vào mình nên T không bật tín hiệu báo trước chuyển làn mà đột ngột chuyển sang làn đường số l nên phần đuôi xe của T va chạm với phần đầu xe mô tô do ông Nguyễn Minh Q điều khiển làm người và hai xe cùng ngã xuống đường, ông Q bị thương nặng được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, đến ngày 20/7/2022 thì chết. Còn T, bà M bị thương và 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm và vẽ sơ đồ hiện trường, khám nghiệm phương tiện, trưng cầu giám định.
Tại biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường, biên bản khám xe thể hiện:
Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường thẳng được trải nhựa, không bị che khuất tầm nhìn. Vị trí số 1 - vết cày hỗn hợp không liên tục; Vị trí số 3 - xe mô tô 85C1-196.74; Vị trí số 4 - xe mô tô 85D1-160.28 nằm trên làn đường số 1. Vị trí số 2 - vùng chất màu nâu đỏ khô dính mặt đường xung quanh có nhiều mảnh vỡ mũ bảo hiểm nằm trên làn số 2.
Xe mô tô biển số 85D1-160.28 và xe mô tô biển số 85C1-196.74: Có nhiều vết mài mòn, trầy xước phần bên trái xe.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số: 91 ngày 19/8/2022 của Trung tâm giám định Y khoa Pháp y tỉnh N có ghi phần chuẩn đoán Bệnh viện tỉnh: ông Nguyễn Minh Q bị nứt sọ thái dương trái, vỡ xương đá trái, tụ máu ngoài màng cứng thái dương trái, tụ máu dưới màng cứng bán cầu phải, xuất huyết khoang dưới nhện rải rác não hai bên.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2022/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 28/12/2022 bị cáo Trần Ngọc T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 28/12/2022 đại diện hợp pháp của bị hại Trần Thị D, kháng cáo xin cho bị cáo Trần Ngọc T được hưởng án treo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về hình thức: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo đúng chủ thể, đúng luật định nên đề nghị xem xét Phúc thẩm.
-Về nội dung: Ngày 15/7/2022, Trần Ngọc T điều khiển xe lưu thông trên tuyến Quốc lộ A hướng P - T. Khi đến Km thuộc thôn H, xã H, T điều khiển xe chạy trên làn đường số 2 phía sau có xe mô tô do ông Nguyễn Minh Q điều khiển chạy cùng chiều trên làn đường số 1 sát lề đường. Sợ các phương tiện phía sau chạy tới tung vào mình nên T không bật tín hiệu báo trước chuyển làn mà đột ngột chuyển sang làn đường số l nên phần đuôi xe của T va chạm với phần đầu xe mô tô do ông Nguyễn Minh Q điều khiển làm người và hai xe cùng ngã xuống đường, ông Q bị thương nặng được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, đến ngày 20/7/2022 thì chết. Xét lỗi của bị cáo, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là phù hợp. Xét bị cáo có nhân thân tốt, tại địa phương có nhiều thành tích, đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo. Bị cáo là người cao tuổi khi phạm tội, đề nghị chấp nhận kháng cáo của Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại , giữ nguyên mức án, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao về địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ để cải tạo đối với bị cáo.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Trần Ngọc T kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Bị cáo T thừa nhận: khoảng 8 giờ 54 phút ngày 15/7/2022, Trần Ngọc T điều khiển xe mô tô biển số 85D1 - 160.28 chở bà Nguyễn Thị Kim M ngồi sau lưu thông trên tuyến Quốc lộ A hướng P - T. Khi đến km thuộc thôn H, xã H, T điều khiển xe chạy trên làn đường số 2 tính từ lề đường vào trong với tốc độ khoảng 30km/h, phía sau có xe mô tô do ông Nguyễn Minh Q điều khiển chạy cùng chiều trên làn đường số 1 sát lề đường. Sợ các phương tiện phía sau chạy tới tung vào mình nên T không bật tín hiệu báo trước chuyển làn mà đột ngột chuyển sang làn đường số l nên phần đuôi xe của T va chạm với phần đầu xe mô tô do ông Nguyễn Minh Q điều khiển làm người và hai xe cùng ngã xuống đường, ông Q bị thương nặng được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh N, đến ngày 20/7/2022 thì chết. Còn T, bà M bị thương và 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Bị cáo tham gia giao thông khi chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước, không quan sát những phương tiện khác, do đó bị cáo chuyển từ làn số 2 sang làng Đ va quẹt xe ông Q đi cùng chiều gây tai nạn, ông Q chết sau đó. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là phù hợp, mức án 9 tháng tù là cân xứng.
Xét: Giai đoạn Phúc thẩm, người đại diện hợp phápbị hại kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo, tại phiên tòa bà Trần Thị Dung giữ nguyên ý kiến, bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận có nhiều thành tích đóng các phong trào, nhiều giấy khen, khi phạm tội bị cáo là người cao tuổi theo Điều 4 Luật người Cao tuổi năm 2009. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo sửa chữa tại địa phương. Giữ nguyên hình phạt, chuyển án treo cho bị cáo .
* Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Ngọc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáoTrần Ngọc T.Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 58/2022/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án Phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
* Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Ngọc T không chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án Phúc thẩm.( 18/4/2023).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Hải; - TAND huyện Ninh Hải; - Công an Ninh Hải; - Chi cục THADS huyện Ninh Hải; - Các bị cáo; - PV 27 Công an tỉnh Ninh Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Phòng KTNV- THA; Tổ HCTP; -Lưu án văn, hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Minh Công |