- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Ngọc V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-PT Ngày 20-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Lam
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình
Ông Đỗ Văn Hiên
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 29/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ Ngọc V do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
*Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Ngọc V, sinh ngày 15/8/1995, tại: tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: tổ 5, phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đ (đã chết) và bà Trương Thị H; Bị cáo có vợ là Lê Thị H1; bị cáo có 01 người con sinh năm 2018; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Ngọc V có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Vào khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 19/7/2022, Đỗ Ngọc V điều khiển xe mô tô biên số 81B3- 082.42, lưu thông một mình trên đường PNT, theo hướng từ đường HHT đến đường LĐH, thành phố P. Khi đi đến trước số nhà 256 đường PNT, tổ 05, phường YT, thành phố P. Đoạn đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên bên trái, V điều khiển xe lưu thông với tố độ khoảng 60km/h (theo lời khai của V) và đi ở làn đường bên trong theo hướng đi của V. Lúc này, V phát hiện ông NVH (sinh năm 1954, trú tại tổ 05, phường YT) cách khoảng 20 mét đang điều khiển xe mô tô biển số 81B1- 483.49, trên lề đường bên phải theo hướng đi của V, đi qua đường để về nhà ông H bên phía đối diện, V nghĩ ông H sẽ nhường đường, nên V không giảm tốc độ mà tăng ga xe mô tô tiếp tục điều khiển thì xe mô tô của V điều khiển tông vào đầu xe bên trái xe mô tô biển số 81B1- 843.49 của ông H đang điều khiển qua đường, làm 02 xe mô tô và người ngã xuống đường. Hậu quả làm ông H chết trên đường đi cấp cứu, Đỗ Ngọc V bị thương nhẹ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi sổ 483/GĐPY ngày 26/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận nguyên nhân chết của ông NVH:
1. dấu hiệu chính qua giám định:
- Vùng thái dương trái: Mô cơ dưới da bầm tụ máu; nứt xương sọ vùng thái dương đỉnh trái đo được trong diện (3 X 0, l) cm, có máu chảy ra qua chỗ nứt.
- Ống tai phải, mũi, miệng chảy dịch đỏ.
- Gãy hở xương cẳng chân trái.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não./.
* Tại phiếu xét nghiệm sinh hóa máu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai đối với nồng độ cồn/máu của ông NVH: Máu tán huyết nên không xác định được.
* Tại phiếu xét nghiệm nồng độ cồn ngày 19/7/2022 của Đội Cảnh sát giao thông - Công an thành phố P với nồng độ cồn trong hơi thở của Đô Ngọc V là 0,000mg/l.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 14-3-2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50, Điều 54; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên trong phần quyết định về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.
3. Kháng cáo của bị cáo
Ngày 21/3/2023 bị cáo Đỗ Ngọc V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/7/2022, Đỗ Ngọc V có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B3-082.42 lưu thông trên đường PNT theo hướng đường HHT đi LĐH. Khi đến trước số nhà 256 PNT, đoạn đường có biển cảnh báo giao nhau với đường không ưu tiên bên trái, V thấy ông NVH điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81B1-843.49 từ vỉa hè bên phải đường PNT chuẩn bị sang phần đường bên trái để về nhà ông H ở phía đối diện thì xe mô tô của V đã tông vào đầu xe bên trái mô tô của ông H, làm cả hai người ngã xuống đường, hậu quả ông H tử vong do chấn thương sọ não.
Từ sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, lời khai của bị cáo, nhân chứng... đủ cơ sở kết luận, tai nạn xảy ra như trên là do bị cáo điều khiển xe không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ: điều khiển xe mô tô khi qua khu vực đông dân cư, không giảm tốc độ, không giữ khoản cách an toàn khi gặp chướng ngại vật phía trước, hậu quả 01 người chết, vi phạm Điều 11, 12 Luật giao thông đường bộ. Bị hại cũng có một phần lỗi do điều khiển xe mô tô qua đường nhưng không báo hiệu xin đường để đảm bảo an toàn giao thông, nên Tòa sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo tình tiết định khung “Làm chết người” tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo phạm tội tại Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, tại đó quy định người phạm tội có thể bị xử phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Tòa sơ thẩm đã xem xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có lỗi khi điều khiển phương tiện giao thông trên đường từ đó áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 09 tháng tù, là mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo đã phạm, như vậy là đã khoan hồng cho bị cáo, nên không chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo: bị cáo có nơi cư trú ổn định, trước khi phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và toàn bộ các tình tiết của vụ án, về nhân thân, đối chiếu những quy định của pháp luật về điều kiện được hưởng án treo và để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng chế định án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên sẽ chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HSST ngày 14-3-2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Ngọc V 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20/7/2023).
Giao bị cáo Đỗ Ngọc V cho Ủy ban nhân dân phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường YT, thành phố P, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: bị cáo Đỗ Ngọc V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai - CQCSĐT thành phố P - VKS thành phố P - TAND thành phố P (2); - Chi cục THADS thành phố P - UNBD phường YT - Bị cáo; - Lưu VT, THS, HSVA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Phạm Duy Lam |