- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Diễm P ly hôn với anh Huỳnh Văn H"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26/6/2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Quốc Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Thái
2. Ông Phan Vũ Anh Kiệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh - Thẩm phán Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Đan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 37/2023/TLST-HNGĐ, ngày 22/2/2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 22/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã L và Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm P – Sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn H – Sinh năm: 1982. Địa chỉ: Khu phố 4, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm P trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn H tìm hiểu, tự nguyện chung sống năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thị xã L vào ngày 06/11/2019, theo giấy chứng nhận kết hôn số 163. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn; Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng ý kiến về nhiều vấn đề. Vợ chồng cũng đã hoà giải nhưng không có kết quả, mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng không còn tôn trọng nhau, hiện tình cảm của chị đối với anh Hùng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Vợ chồng không sống chung từ năm 2019 cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Văn H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Huỳnh N, sinh ngày 29/7/2020, Giới tính: Nữ. Khi ly hôn, chị Phúc yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Huỳnh Văn H: Đã được Tòa án nhân dân thị xã L tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh Hùng không có mặt để giải quyết vụ án. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L cho rằng:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 41 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện đúng theo quy định.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Diễm P được ly hôn với anh Huỳnh Văn H. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Nga, sinh ngày 29/7/2020, Giới tính: Nữ cho chị Nguyễn Thị Diễm P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không giải quyết do các đương sự không yêu cầu. Về án phí: Chị Phúc phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm P nộp đơn khởi kiện về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con" đối với bị đơn anh Huỳnh Văn H. Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố 4, phường Bình Tân, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Chị Nguyễn Thị Diễm P có đơn xin giải quyết vắng mặt; anh Huỳnh Văn H đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung. [2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Diễm P và anh Huỳnh Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Tân, thị xã L, tỉnh Bình Thuận vào ngày 06/11/2019 nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Chị P cho rằng chị không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn với anh H. Hơn nữa, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ anh H đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa chị Phúc và anh H, thể hiện: “…Vợ chồng anh Hùng và chị P có phát sinh mâu thuẫn, gia đình không hoà thuận, vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 cho đến nay … Toà án giải quyết theo yêu cầu của chị P”. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh, chị đã thật sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của nguyên đơn, là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Giữa chị Nguyễn Thị Diễm P và anh Huỳnh Văn H có 01 con chung là cháu Huỳnh N, sinh ngày 29/7/2020, giới tính: Nữ. Xét, yêu cầu nuôi con của chị Phúc, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con cho ai nuôi phải đảm bảo cho con trẻ được phát triển bình thường, đầy đủ nhất về thể chất và tinh thần. Hiện tại cháu N còn nhỏ và đang được chị Phúc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Phúc có việc làm và thu nhập ổn định, vẫn đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu Nga tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung cho chị Phúc tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Để đảm bảo quyền lợi của con chung, anh H được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nếu có căn cứ theo quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị P không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 9, 51, 56, 58, 69, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm P được ly hôn anh Huỳnh Văn H. [2] Về con chung: Giao con chung là cháu Huỳnh Nga, sinh ngày 29/7/2020, giới tính: Nữ cho chị Nguyễn Thị Diễm P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Văn H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh H được quyền khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn nếu có căn cứ theo quy định pháp luật. [3] Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết. [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm P phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phúc đã nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, theo biên lai số 0013101, ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Chị Nguyễn Thị Diễm P đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. [6] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Diễm P và anh Huỳnh Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung. * Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Thuận;
| - VKSND thị xã L; - THADS thị xã L; - Các đương sự; - Nơi ĐKKH: UBND phường Bình Tân, thị xã L; - Lưu hồ sơ; Lưu Tòa án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Từ Quốc Thái Bình |