vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị qu…

* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị H. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lã Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đức Đ.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị qu…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ - ST
Ngày 05 tháng 4 năm 2023
“Ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư

Ông Nguyễn Văn Môn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 24/02/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/3/2023, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Lã Thị H, sinh năm 1974 (Có đơn xin vắng mặt)

HKTT và chỗ ở: Số nhà 28, tổ dân phố số 3, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1975 (Có đơn xin vắng mặt)

HKTT: Số nhà 26, ngõ 74, đường Nguyễn Văn Cừ, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2023, Bản tự khai, Biên bản hòa giải trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Lã Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lã Thị H kết hôn với anh Nguyễn Đức Đ vào ngày 01/4/1998. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chung sống với nhau ngay tình cảm ban đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2000, nguyên nhân chính là do anh Đ nghiện ma túy, anh Đ thường xuyên đánh đập chị H, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không cải thiện được, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2005 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Đức Đ không còn thương yêu nhau, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn đối với anh Nguyễn Đức Đ.

- Về con chung là: Nguyễn Thị Diệu Hương, sinh ngày 22/12/1994. Con chung đã trưởng thành và đã xây dựng gia đình riêng, chị H không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/3/2023, bị đơn là anh Nguyễn Đức Đ trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức Đ kết hôn với chị Lã Thị H vào ngày 01/4/1998. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện và có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chung sống với nhau ngay tình cảm ban đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc.

Trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng cãi mắng nhau, anh Đ nghiện mà túy và phải đi chấp hành án phạt tù cho nên vợ chồng không ai quan tâm đến ai, vợ chồng sống ly thân tình cảm từ năm 2005 cho đến nay.

Nay chị H xin ly hôn thì anh vẫn mong muốn vợ chồng về đoàn tụ gia đình. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy Đ pháp luật.

- Về con chung là: Nguyễn Thị Diệu Hương, sinh ngày 22/12/1994. Con chung đã trưởng thành, anh không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung và công nợ chung không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại biên bản xác minh ngày 10/3/2023, Tổ trưởng tổ dân phố Lê Lợi, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang cung cấp:

Chị Lã Thị H và anh Nguyễn Đức Đ kết hôn với nhau vào năm 1998. Trong quá trình chung sống thì anh Đ, chị H có nhiều mâu thuẫn. Anh Đ là đối tượng nghiện ma túy, vợ chồng anh chị ly thân từ năm 2005 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Lã Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Đức Đ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy Đ pháp luật.

* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Hòa giải đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy Đ của pháp luật. Bị đơn là anh Đ vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn, bị đơn không nhất trí yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy Đ của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu:

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng quy Đ của pháp luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn và bị đơn tuân thủ theo đúng các quy Đ của pháp luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lã Thị H và xử cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Đức Đ. Về con chung đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Lã Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

- Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lã Thị H và anh Nguyễn Đức Đ đều có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn tại phiên toà.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị H thì thấy đây là quan hệ “Ly hôn”. Bị đơn là anh Nguyễn Đức Đ có Hộ khẩu thường trú tại phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là đúng với quy Đ của pháp luật về thẩm quyền được quy Đ tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lã Thị H và anh Nguyễn Đức Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 01/4/1998 đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy Đ tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh Đ xác Đ sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng chị đã sống ly thân nhau. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đ không còn thương yêu nhau, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức Đ. Anh Đ xác Đ vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2005 cho đến nay và anh Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị H. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ có đơn xin vắng mặt, nên các đương sự không thỏa thuận giải quyết được với nhau về nội dung vụ án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được đời sống chung không thể kéo dài. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ và phù hợp với quy Đ tại Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[3.2]. Về con chung: Chị H và anh Đ có con chung là Nguyễn Thị Diệu Hương, sinh ngày 22/12/2994. Con chung đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3.3]. Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy Đ của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy Đ tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

* Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lã Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lã Thị H được ly hôn anh Nguyễn Đức Đ.

2. Về con chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết

3. Tài sản chung và công nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lã Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 0002092 ngày 24/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết Đ được thi hành theo quy Đ tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy Đ tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy Đ tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ