- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án số: 23/2023/HNGĐ- ST"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HNGĐ- ST Ngày: 31/01/2023 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ
2. Bà Lộc Thị Kim Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thảo Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 31/01/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2022/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 11 năm 2022, về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21/12/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/01/2023, giữa:
* Nguyên đơn: Chị Bàn Thị H, sinh năm 1992
* Bị đơn: Anh Lý Ngọc H, sinh năm 1990.
Cùng trú tại: Thôn Éo, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bàn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Ngọc H tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 29/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chị làm ăn, sinh sống ở thôn Éo, xã P, huyện Y. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận. Từ năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai bên không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm, lối sống. Chị và anh H sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Ngọc H.
Về con chung: chị và anh Lý Ngọc H có 02 con chung là cháu Lý Thế M, sinh ngày 06/6/2013 và cháu Lý Thanh H, sinh ngày 02/8/2015, hiện nay cháu M và cháu H đang ở với anh H. Khi ly hôn các cháu có nguyện vọng ở với ai thì người đó trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung, vay nợ chung: chị xác định, chị và anh H không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng. Tuy nhiên anh H không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Chị H có đơn từ chối hòa giải.
Trong đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà, Chị H giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Y phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán và Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Đề nghị HĐXX: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H, xử cho chị Bàn Thị H được ly hôn với anh Lý Ngọc H. Về con chung: Giao con chung là cháu Lý Thế M, sinh ngày 06/6/2013 và cháu Lý Thanh H, sinh ngày 02/8/2015 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H và anh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung khi ly hôn, do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: kết quả xác minh xác định anh Lý Ngọc H hiện đang cư trú, sinh sống tại xã P, huyện Y. Vì vậy, căn cứ khoản 1, điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Y.
Anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H, HĐXX nhận định:
Đối với yêu cầu xin ly hôn với anh Lý Ngọc H: Căn cứ kết quả xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh H đang sinh sống xác định: Chị H và anh H kết hôn từ năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống chung tại thôn Éo, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống vợ chồng anh chị hạnh phúc đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được. Bản thân Chị H xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể quay lại đoàn tụ được. Mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn theo Chị H xác định do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh H không có ý kiến gì, không có mặt theo yêu cầu của Tòa án để tiến hành hòa giải, điều đó cho thấy anh H cũng không mong muốn hòa giải đoàn tụ. Chị H và anh H sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai.
Từ những căn cứ trên xác định, tình trạng hôn nhân giữa Chị H và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của Chị H là chính đáng và có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc giao nuôi con chung khi ly hôn, Hội đồng xét xử nhận định: Chị H và anh H có 02 con chung là cháu Lý Thế M, sinh ngày 06/6/2013 và cháu Lý Thanh H, sinh ngày 02/8/2015, kết quả xác minh xác định anh H hiện tại đang trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu. Anh H là lao động tự do thu nhập trung bình của lao động tự do tại địa phương khoảng 6.000.000đ/ tháng. Chị H đã sống ly thân với anh H từ năm 2017 đến nay, không trực tiếp nuôi con. Cháu M và cháu H đều trên 7 tuổi, có nguyện vọng được sống cùng bố. Tham vấn ý kiến của chính quyền địa phương có ý kiến, trong hoàn cảnh của Chị H, anh H thì Toà án nên giao cả hai cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án mặc dù anh H không hợp tác, không trình bày quan điểm về việc giao nuôi con chung khi ly hôn, nhưng căn cứ vào kết quả xác minh và ý kiến của Chị H, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai cháu cho anh H nuôi dưỡng. Do anh H không có yêu cầu về cấp dưỡng nên Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản, nợ chung: Chị H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị H phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh H không phải nộp án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 39, 147, 228, 235, 238, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bàn Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Bàn Thị H được ly hôn anh Lý Ngọc H.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lý Thế M, sinh ngày 06/6/2013 và cháu Lý Thanh H, sinh ngày 02/8/2015 cho anh Lý Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: chị Bàn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004301 ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Anh Lý Ngọc H không phải nộp án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Y; - Chi cục THADS huyện Y; - UBND xã P (Nơi ĐKKH); - Các đương sự; - Lưu VT- HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Thị Huệ - Lộc Thị Kim Thơm | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Toàn THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Toàn |