vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Tôn Quốc V. Về con chung: Giao cháu Tôn Quốc V1, sinh ngày 11/6/2017; Tôn Quốc G, sinh ngày 06/4/2019 cho chị Nguyễn Thị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Tôn Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị P - Tôn Quốc V ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13/7/2023
V/v tranh chấp: “ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Trưng và ông Nguyễn Mạnh Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Giang– Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa: Ông Biện Tấn Hoàng- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 90/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1998; Trú tại: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Tôn Quốc V, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/5/2023, các tài liệu có tại hồ hơ và tại đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh Tôn Quốc V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 22/02/2017 tại UBND xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, anh V ăn chơi, cờ bạc, sống không có trách nhiệm với gia đình, gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên bảo, hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Chị P và anh V sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, đến đầu năm 2023 thì anh V bị Công an khởi tố về hành vi cướp giật tài sản. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P xin được ly hôn với anh V.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Tôn Quốc V1, sinh ngày 11/6/2017; Tôn Quốc G, sinh ngày 06/4/2019; Hiện cháu V1, cháu G do chị P đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V1 và cháu G; chị P không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Theo các lời khai có tại hồ sơ, đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Tôn Quốc V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh V đồng ý ly hôn với chị P vì quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Tôn Quốc V1, sinh ngày 11/6/2017; Tôn Quốc G, sinh ngày 06/4/2019, hiện cháu V1, cháu G do chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh V đồng ý giao các con chung cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng; Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xét xử vắng mặt; đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P; Về con chung: Giao các con chung Tôn Quốc V1, sinh ngày 11/6/2017; Tôn Quốc G, sinh ngày 06/4/2019 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị P khởi kiện anh Tôn Quốc V trú tại: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên về việc “Ly hôn”. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy An. Chị Nguyễn Thị P và anh Tôn Quốc V đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, HĐXX căn cứ Điều 227 và Điều 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Tôn Quốc V tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, được UBND xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 22/02/2017 nên được coi là hôn nhân hợp pháp.

HĐXX xét thấy: Chị P và anh V đã không còn sống chung từ năm 2020 đến nay, chị P xác định không còn tình cảm với anh V, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc và yêu thương lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án và tại đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt anh V cho biết nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hôn nhân không hạnh phúc và đồng ý ly hôn với chị P.

Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị P và anh V là trầm trọng do mâu thuẫn kéo dài và cả hai cũng không có biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, đời sống chung của vợ chồng thực tế không tồn tại, khả năng hàn gắn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Chị P và anh V thống nhất có 02 con chung tên Tôn Quốc V1, sinh ngày 11/6/2017; Tôn Quốc G, sinh ngày 06/4/2019, hiện cháu V1 và cháu G do chị P đang trực tiếp nuôi dưỡng. Chị P yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Anh V thống nhất giao cháu V1 và cháu G cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần cho các cháu, HĐXX chấp nhận giao cháu V1, cháu G cho chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị P không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227; Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Tôn Quốc V.

2. Về con chung: Giao cháu Tôn Quốc V1, sinh ngày 11/6/2017; Tôn Quốc G, sinh ngày 06/4/2019 cho chị Nguyễn Thị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Tôn Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết, các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0009609 ngày 24/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ