- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-6-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bé
Ông Lê Văn Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 23/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/3/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1992 (CCCD số: xxxxxxxxxxxx); Địa chỉ: Ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. (Có đơn xin giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Quốc K, sinh năm 1986 (CCCD số: xxxxxxxxxxxx); Địa chỉ: Ấp Đá Biên, xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày: Bà D và ông K tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An vào ngày 24/4/2011. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hai người con chung tên Lê Nguyễn Cẩm Tiên, sinh ngày 25/5/2011 và Lê Thanh Tuyền, sinh ngày 26/10/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình hai bên không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vả, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Nay, bà D nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, bà D không còn tình cảm gì với ông K nên yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Bà D yêu cầu được ly hôn với ông Lê Quốc K.
Về con chung: Bà D yêu cầu được quyền nuôi dưỡng Lê Nguyễn Cẩm Tiên, sinh ngày 25/5/2011 và Lê Thanh Tuyền, sinh ngày 26/10/2012. Không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Hai con Tiên và Tuyền hiện đang sống với bà D.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Bị đơn Lê Quốc K đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn đều có địa chỉ tại xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân giữa bà D và ông K: Bà D yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng không hợp, không có sự quan tâm đến nhau. Ông K không quan tâm, chăm lo cho vợ con. Bà D và ông K đã sống ly thân từ lâu. Ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu của bà D. Như vậy, ông K không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Mục đích hôn nhân không đạt được. Bà D yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc D cung cấp giấy khai sinh con Lê Nguyễn Cẩm Tiên, sinh 25/5/2011 và Lê Thanh Tuyền, sinh ngày 26/10/2012, là con chung của bà D, ông K. Bà D xác nhận hai con hiện đang sống với bà D. Các con chung của ông K và bà D có ý kiến xin được tiếp tục sống với mẹ. Bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, ông K không có ý kiến về việc nuôi con nên chấp nhận yêu cầu của bà D về việc tiếp tục trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con, bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu giải quyết. Ông K không có ý kiến trình bày nên không đề cập trong vụ án này.
Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
1.1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc D với ông Lê Quốc K.
1.2. Về con chung: Giao con Lê Nguyễn Cẩm Tiên, sinh ngày 25/5/2011 và Lê Thanh Tuyền, sinh ngày 26/10/2012 cho bà Nguyễn Thị Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng (con hiện đang sống với bà D). Ông Lê Quốc K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét trong vụ án này.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số 0008960 ngày 06 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang thi hành án phí. Bà D không phải nộp thêm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thạnh Hóa; - Chi cục THADS huyện Thạnh Hoá; - UBND xã Thạnh Phước, huyện Thạnh Hóa; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thúy Lành |