vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H. Cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quang L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn H - L"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 10 - 3 - 2023.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Bích Ngọc.

2. Bà Nguyễn Thị Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 497/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị H – sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Số nhà 85, tổ 4, ấp PT, xã PTr, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Nguyễn Quang L – sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Tổ 7, ấp PT, xã PTr, huyện TP, Đồng Nai.

(chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quang L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2000 và được Ủy ban nhân dân xã PTr cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh L thường xuyên rượu chè say xỉn, kiếm chuyện, gây gỗ đánh chị. Chị đã cố gắng chịu đựng nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Đến năm 2016, chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống và vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Trong quá trình ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau và hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Quang L.

Về con chung: Chị và anh L có 07 con chung:

- Nguyễn Trần Tố N – sinh ngày: 16/4/2002.

- Nguyễn Trần Quang L1 – sinh ngày: 20/12/2004.

- Nguyễn Trần Nam A – sinh ngày: 28/12/2006.

- Nguyễn Trần Bảo T – sinh ngày: 19/5/2008.

- Nguyễn Trần Đại P – sinh ngày: 18/11/2012.

- Nguyễn Trần Hoàng Đ – sinh ngày: 11/12/2016.

- Nguyễn Trần Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/12/2016.

Hiện tại, cháu N và cháu L1 đã thành niên và có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Từ khi chị và anh L ly thân nhau đến nay, các con chung chưa thành niên do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng toàn bộ các con chung chưa thành niên và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Quang L: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập anh L đến Tòa án làm việc nhưng anh L không đến Tòa án để thể hiện nguyện vọng của mình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H đã giao nộp những tài liệu, chứng cứ sau: Căn cước nhân dân của chị H, anh L (bản sao); Giấy khai sinh của con chung (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Bản tự khai ngày 21/11/2022 của chị H (bản chính). Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Biên bản thể hiện nguyện vọng của con chung; Biên bản xác minh tại địa phương. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã được Tòa án ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị H và anh L đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.

+ Về con chung:

Đối với 02 cháu Nguyễn Trần Tố N – sinh ngày: 16/4/2002, Nguyễn Trần Quang L1 – sinh ngày: 20/12/2004 đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị giao 05 cháu gồm Nguyễn Trần Nam A – sinh ngày: 28/12/2006, Nguyễn Trần Bảo T – sinh ngày: 19/5/2008, Nguyễn Trần Đại P – sinh ngày: 18/11/2012, Nguyễn Trần Hoàng Đ – sinh ngày: 11/12/2016, Nguyễn Trần Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/12/2016 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Nguyễn Quang L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh L nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Nguyễn Quang L. Anh L đang cư trú tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

. Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Quang L là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị H và anh L kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PTr vào ngày 05/10/2000. Nay chị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh L nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 5, 6, 8, 40, 45 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết.

. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 05/10/2000. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại các Điều 5, 6, 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị H yêu cầu ly hôn do anh L không chăm lo cho gia đình, thường xuyên say xỉn và còn có hành vi bạo lực gia đình nên trong cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập anh L đến Tòa án để hòa giải nhưng anh L không đến để làm việc. Điều này thể hiện ý chí của anh L không muốn hàn gắn, đoàn tụ. Đồng thời qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc và đã sống ly thân nhau.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh L trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H là cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang L.

. Về con chung: Chị H và anh L có 07 con chung là:

- Nguyễn Trần Tố N – sinh ngày: 16/4/2002.

- Nguyễn Trần Quang L1 – sinh ngày: 20/12/2004.

- Nguyễn Trần Nam A – sinh ngày: 28/12/2006.

- Nguyễn Trần Bảo T – sinh ngày: 19/5/2008.

- Nguyễn Trần Đại P – sinh ngày: 18/11/2012.

- Nguyễn Trần Hoàng Đ – sinh ngày: 11/12/2016.

- Nguyễn Trần Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/12/2016.

Hiện tại, cháu N và cháu L1 đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 05 cháu A, T, P, Đ, Đ1. Xét thấy, bản thân chị H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị H và anh L sống ly thân đến nay, con chung sống cùng chị H và được chị H chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt. Mặt khác, các con chung đều có nguyện vọng sống cùng với chị H. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Trần Nam Anh, Nguyễn Trần Bảo T, Nguyễn Trần Đại P, Nguyễn Trần Hoàng Đ, Nguyễn Trần Hồng Đ1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt anh L nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 5, 6, 8, 40, 45 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.

Cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Quang L.

2. Về con chung: Chị H và anh L có 07 con chung là:

- Nguyễn Trần Tố N – sinh ngày: 16/4/2002.

- Nguyễn Trần Quang L1 – sinh ngày: 20/12/2004.

- Nguyễn Trần Nam A – sinh ngày: 28/12/2006.

- Nguyễn Trần Bảo T – sinh ngày: 19/5/2008.

- Nguyễn Trần Đại P – sinh ngày: 18/11/2012.

- Nguyễn Trần Hoàng Đ – sinh ngày: 11/12/2016.

- Nguyễn Trần Hồng Đ1 – sinh ngày: 11/12/2016.

Hiện tại, 02 con chung là Nguyễn Trần Tố N và Nguyễn Trần Quang L1 đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Giao 05 con chung gồm Nguyễn Trần Nam A, Nguyễn Trần Bảo T, Nguyễn Trần Đại P, Nguyễn Trần Hoàng Đ, Nguyễn Trần Hồng Đ1 cho chị Hoàng Thị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Nguyễn Quang L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0002884 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.

5. Quyền kháng cáo: Chị H và anh L có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ