vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Th đối với ông Võ Thanh T.

Về hôn nhân: Bà Trương Thị Th được ly hôn với ông Võ Thanh T. Về nuôi con chung: Bà Trương Thị Th được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Võ Thanh Đ, sinh ngày 04/10/2006 và Võ Thanh S, sinh ngày 22/6/2017. Ông Võ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trương Thị Th "Ly hôn" ông Võ Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Th đối với ông Võ Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07-7-2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Ngọc Bột;

2/ Ông Nguyễn Thành Hiệp;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa.

Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An; Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2023/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Th, sinh năm: 1988 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp K12, xã M, thị xã C, tỉnh T.

2. Bị đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm: 1988 (Vắng mặt không lý do).

Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện M, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị Th trình bày như sau:

Bà Th và ông T do quen biết nên vào năm 2005 cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện M, tỉnh L vào ngày 21/11/2008. Thời gian sống chung cùng gia đình chồng được 10 năm, sau đó thì ra ở riêng cho đến nay. Khi mang thai con thứ hai thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T đánh đập và đuổi bà Th ra khỏi nhà, sau khi sinh con thì bà Th cùng hai con về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Nay xét thấy không còn tình cảm với ông T, do đó bà Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: có 02 con chung tên Võ Thanh Đ, sinh ngày 04/10/2006 và Võ Thanh S, sinh ngày 22/6/2017, hiện 02 con đang sống với bà Th. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: không có

Về nghĩa vụ trả nợ: không có.

Bị đơn, ông Võ Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự đến hòa giải và triệu tập đến phiên tòa xét xử nhưng ông T vẫn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị Th yêu cầu ly hôn với ông Võ Thanh T là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: ông Võ Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Th và ông Võ Thanh T xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh L cấp giấy chứng nhận kết hôn là hôn nhân hợp pháp.

Bà Th yêu cầu được ly hôn với ông T vì cho rằng cuộc sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T thường đánh đập, đuổi xua bà Th, vợ chồng đã ly thân nhau nhiều năm. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa đã tiến hành các thủ tục về cấp tống đạt, hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự các thông báo về phiên hòa giải, xét xử nhưng ông T vẫn vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông T không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa hai bên.

Do đó Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân giữa bà Th và ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Th yêu cầu được ly hôn là có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Võ Thanh Đ, sinh ngày 04/10/2006 và Võ Thanh S, sinh ngày 22/6/2017, hiện 02 con đang sống với bà Th. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung

Xét từ khi vợ chồng ly thân thì 02 cháu Đ và S sống cùng với bà Th và 02 cháu cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ sau khi khi cha mẹ ly hôn. Để đảm bảo ổn định tâm lý cho cháu cần duy trì việc nuôi dưỡng này. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao 02 cháu Đ và S cho bà Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: ông Võ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trương Thị Th không có yêu cầu.

Về chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ: Bà Th xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung thì không có, ông T vắng mặt nên không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Trương Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; Điều 35; 39; 147; 227; 228; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51; 56; 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Th đối với ông Võ Thanh T.

Về hôn nhân: Bà Trương Thị Th được ly hôn với ông Võ Thanh T.

Về nuôi con chung: Bà Trương Thị Th được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Võ Thanh Đ, sinh ngày 04/10/2006 và Võ Thanh S, sinh ngày 22/6/2017. Ông Võ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

2. Về án phí: Bà Trương Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010669, ngày 12/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ