- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Q xin ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST Ngày 05 tháng 5 năm 2023 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Đình Long.
2/ Bà Nguyễn Thị Chinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 99/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1983. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ.
(Hiện đã mất tích theo quyết định số 02/2023/QĐST-VDS ngày 19/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q và ông Nguyễn Ngọc H cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đ vào ngày 23/8/2005. Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà Q chung sống với nhau tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đ hạnh phúc, đến năm 2018 ông H đi làm ăn xa và từ đó cho đến nay bà Q không có tin tức gì của ông H. Bà Q đã áp dụng tất cả các biện pháp tìm kiếm; xác minh tại Công an xã Ea Toh, huyện Krông Năng; yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Năng thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú nhưng không rõ ông H ở đâu.
Do đó bà Q yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Ngọc H mất tích theo quy định. Ngày 19/01/2023 Tòa án nhân dân huyện Krông Năng tuyên bố ông Nguyễn Ngọc H mất tích theo quyết định số 02/2023/QĐST-VDS. Từ đó cho đến nay ông H vẫn không trở về địa phương. Nay để ổn định cuộc sống, bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng bà có 03 con chung là Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 06/3/2006; Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 29/5/2007 và Nguyễn Thị Linh C, sinh ngày 12/4/2012. Hiện cả 03 con đều sống với bà nên bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu Tòa án xem xét vấn đề trợ cấp.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà đề nghị giải quyết theo quy định.
Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H hiện đã mất tích theo quyết định số 02/2023/QĐST-VDS ngày 19/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng nhận định về các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, cho bà Q ly hôn với ông H; giao 03 con chung cho bà Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, không xem xét vấn đề trợ cấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét qua đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ kiện hôn nhân gia đình về việc “Xin ly hôn, nuôi con”, bị đơn ông Nguyễn Ngọc H có nơi cư trú cuối cùng tại thôn T, xã E, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Căn cứ theo giấy đăng ký kết hôn số 46, quyển số 01 ngày 25/8/2005 của UBND xã E, huyện K, tỉnh Đ thì xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Q và ông Nguyễn Ngọc H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian ngắn chung sống, đến tháng 02/2018 ông H bỏ nhà đi cho đến nay không có tin tức gì.
Qua xác minh tại địa phương thể hiện: Ông Nguyễn Ngọc H bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2018. Đến tháng 02/2023 Tòa án nhân dân huyện Krông Năng có quyết định tuyên bố ông H mất tích. Kể từ ngày Tòa án tuyên bố ông H mất tích đến nay ông H không về địa phương.
Quá trình giải quyết, bà Q xác định không còn tình cảm gì với ông H nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông H.
Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q, cho bà Q ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng bà Q có 03 con chung là Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 06/3/2006; Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 29/5/2007 và Nguyễn Thị Linh C, sinh ngày 12/4/2012.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Q có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả 03 con chung đến tuổi trưởng thành. Xét thấy yêu cầu của bà Q là chính đáng và phù hợp với nguyện vọng của các con nên HĐXX chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q, ông H không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng về nội dung vụ án là có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí: Bà Q phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc H.
[2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 06/3/2006; Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 29/5/2007 và cháu Nguyễn Thị Linh C, sinh ngày 12/4/2012 cho bà Nguyễn Thị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Q không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Ông Nguyễn Ngọc H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022213 ngày 14 tháng 3 năm 2023. Bà Nguyễn Thị Q đã nộp đủ.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Chi cục THADS huyện Krông Năng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Trang |