vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H1 được ly hôn ông Nguyễn Hữu L.

Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thúy H1 - Nguyễn Hữu L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H1 được ly hôn ông Nguyễn Hữu L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2023
Về việc “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Hồng Trang;

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 38/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H1 - Sinh năm 1995 - Địa chỉ: Thôn TĐ, xã BLN, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L - Sinh năm 1986 - Địa chỉ: Ấp 3, xã MTĐ, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 24-11-2022, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H1 trình bày và yêu cầu: Bà và ông Nguyễn Hữu L cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MTĐ ngày 28-4-2016; Chung sống đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay.

Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu L;

Về nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Vụ án không hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Nguyễn Hữu L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;

- Ngày 10-3-2023, bà Nguyễn Thị Thúy H1 có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt;

- Bị đơn là ông Nguyễn Hữu L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Nguyễn Thị Thúy H1 khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Nguyễn Hữu L; Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [2] Bà H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; [3] Bị đơn là ông L được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [4] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. [5] Xét về hôn nhân: [5.1] Bà H1 và ông L chung sống có đăng ký kết hôn ngày 28-4-2016 tại Ủy ban nhân dân xã MTĐ, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà H1 và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. [5.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà H1: Bà H1 cho rằng xảy ra mâu thuẫn do do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Xét từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay, bà H1 và ông L không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà H1 và ông L vẫn sống ly thân, mỗi người tự lo cho bản thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Mâu thuẫn giữa bà H1 và ông L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà H1 yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. [6] Xét về nuôi con chung: Bà H1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập. [7] Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Bà H1 trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập. Ông L không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà H1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà H1 đã nộp đủ án phí; Ông L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H1 được ly hôn ông Nguyễn Hữu L.

2. Về nuôi con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001246 ngày 10-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Bà H1 đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ