vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Khánh Q được ly hôn anh Vũ Văn C.

2/. Về con chung: Xử giao con chung Vũ Kim N, sinh ngày 16/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Khánh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị Q tự nguyện không yêu cầu anh Vũ Văn C cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vũ Văn C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Vũ Văn C và chị Nguyễn Thị Khánh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Q - Anh C"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Khánh Q được ly hôn anh Vũ Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2023
V/v: Tranh chấp về hôn nhân và
gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Ngọc Sử

2. Ông Nguyễn Hữu Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân huyện Đông Hưng.

Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023; về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh Q, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn P, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đ3, xã Đô1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt chị Q; anh C có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Khánh Q trình bày:

Chị và anh Vũ Văn C tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình vào ngày 12/4/2000. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và do anh C dính vào tệ nạn ma túy, hiện anh C đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình, đóng tại xã Đông Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

Chị và anh C có 02 con chung là Vũ Tiến Q2, sinh ngày 13/9/2000 và Vũ Kim N, sinh ngày 16/10/2012, hiện con Vũ Kim N đang ở với chị. Ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi con Vũ Kim N và không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con. Con Vũ Tiến Q2 đã trên 18 tuổi, trưởng thành, tự lập nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị và anh C không có tài sản chung và không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai của anh Vũ Văn C viết tại Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình có nội dung:

Thời gian và điều kiện kết hôn của anh và chị Nguyễn Thị Khánh Q, như chị Q khai là đúng. Sau khi kết hôn anh và chị Q chung sống tại thôn Đ3, xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình. Đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã ly thân từ năm 2017. Hiện nay anh đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Công lập tỉnh Thái Bình, đóng tại xã Đông Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Nay anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Q xin ly hôn, anh đồng ý.

Anh và chị Q có 02 con chung như chị Q khai. Do anh đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nên vợ chồng ly hôn thì anh đồng ý để chị Q nuôi dưỡng con Vũ Kim N, sinh ngày 16/10/2012; con Vũ Tiến Q2, sinh ngày 13/9/2000 đã trên 18 tuổi, trưởng thành, tự lập nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh và chị Quỳnh không có tài sản chung, không có nợ chung nên anh không yêu cầu giải quyết tài sản.

Anh đã được nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình liên quan đến việc giải quyết vụ án. Do tình cảm vợ chồng không còn nên anh viết đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải cho anh và chị Q và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh. Đến ngày 27/4/2023, anh chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, anh đề nghị Tòa án gửi các văn bản tố tụng cho anh theo địa chỉ thường trú của anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Bị đơn anh Vũ Văn C có nơi cư trú tại xã Đ1, huyện Đ2, tỉnh Thái Bình; vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Vũ Văn C có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh C.

- Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Khánh Q và anh Vũ Văn C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng mâu thuẫn và ly thân nhau đã lâu, cả hai đều không muốn duy trì cuộc sống hôn nhân, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q.

Về con chung: Con Vũ Kim N đang sinh sống ổn định cùng chị Q và cháu có nguyện vọng được ở với chị Q; từ khi vợ chồng ly thân, chị Q vẫn chăm sóc con chu đáo, đảm bảo việc học tập, sinh hoạt của con. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con N, cần giao con N cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc chị Q không yêu cầu anh C cấp dưỡng cho con N. Con Vũ Tiến Q2 đã trên 18 tuổi, trưởng thành tự lập nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng.

Về tài sản: Do chị Q và anh C không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Q và anh C có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

1/. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Khánh Q được ly hôn anh Vũ Văn C.

2/. Về con chung: Xử giao con chung Vũ Kim N, sinh ngày 16/10/2012 cho chị Nguyễn Thị Khánh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc chị Q tự nguyện không yêu cầu anh Vũ Văn C cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Vũ Văn C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Vũ Văn C và chị Nguyễn Thị Khánh Q có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu dưỡng cho con khi cần thiết.

3/. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4/. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; chuyển số tiền 300.000 đồng chị Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003172 ngày 03/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng thành tiền án phí.

5/. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Khánh Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Vũ Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ