vanban.org

Bản án 23/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 23/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 01 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thanh Nhàn

2. Bà Phan Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên

Trong ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 871/2022/TLST-

HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly

hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 611/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày

07 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 560/2022/QĐST-DS

ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An

Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huyền Tr, sinh năm 1992

Địa chỉ: Số 228/10, khóm BĐ05, phường BĐ, thành phố LX, tỉnh An

Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn C, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp MA, xã MA, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn chị Nguyễn Huyền Tr trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tr và anh C do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn

nhân vào năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 30/11/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống ở nhà riêng của vợ chồng tại địa chỉ số 228/10, khóm BĐ05, phường BĐ, thành phố LX, tỉnh An Giang mà không có sống chung với cha mẹ. Vợ chồng sống đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do chị Tr có mượn nợ dùm cho gia đình chị Tr với số tiền 10.000.000 đồng nên anh C thường lấy lý do này để mắn chửi chị Tr, trong quá trình sống chung thì anh C không có gửi tiền phụ giúp chị Tr để lo chi tiêu trong gia đình, thường xuyên uống rượu, khi uống rượu vào thì còn có hành vi đánh đập chị Tr. Đỉnh điểm phát sinh mâu thuẫn giữa chị Tr và anh C khoảng giữa năm 2021 nên vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Tr và anh C. Về phần anh C thì anh C có hứa thay đổi tính tình nhưng không thay đổi; còn bản thân chị Tr cũng có cho cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do anh C không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị Tr yêu cầu được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Chị Tr và anh C có 02 con chung tên Huỳnh Thị Minh

Th, sinh ngày 25/12/2010 và Huỳnh Hoàng Q, sinh ngày 19/9/2009, hiện nay con chung đang sống với chị Tr. Khi ly hôn, chị Tr yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Văn C vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Nguyễn Huyền Tr trình bày: Vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì

vợ chồng không còn tiếng nói chung, thường phát sinh mâu thuẫn về mặt tiền bạc dẫn đến cự cãi, anh C còn có hành vi dùng vũ lực đối với chị Tr. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Tr và anh C; anh C cũng hứa thay đổi tính tình nhưng không sửa đổi; chị Tr có cho anh C cơ hội để vợ chồng đoàn tụ nhưng do anh C không thay đổi tính tình nên vợ chồng không hàn gắn được. Do đó, chị Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Anh Huỳnh Văn C vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai

đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn

Huyền Tr. Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Huyền Tr được ly hôn với anh Huỳnh Văn C. Chị Nguyễn Huyền Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Huỳnh Thị Minh Th, sinh ngày 25/12/2010 và Huỳnh Hoàng Q,

sinh ngày 19/9/2009; anh Huỳnh Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài

sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Huyền Tr khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh

Huỳnh Văn C, yêu cầu được tiếp tục chăm, sóc nuôi dưỡng con chung sau khi ly

hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Huỳnh Văn C (bị

đơn) có nơi cư trú tại ấp MA, xã MA, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án

nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1

Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng

dân sự.

Đối với anh Huỳnh Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham

gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng

tại Tòa án. Đồng thời, tại phiên tòa, anh Huỳnh Văn C đã được triệu tập hợp lệ

lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều

228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh

Huỳnh Văn C.

Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Huyền Tr cho rằng, chị Tr và anh C do tự tìm hiểu nên tiến

đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Đức,

thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 30/11/2012. Vợ chồng chung

sống đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn về mặt tiền bạc, bất đồng quan

điểm sống, anh C không phụ giúp chị Tr chăm lo cho gia đình. Mâu thuẫn trở

nên gay gắt từ năm 2021 nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời

gian vợ chồng sống ly thân, anh C không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ

chồng; chị Tr đã cho cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do anh C

không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được; gia đình hai bên không có

động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Tr và anh C. Nhận thấy tình cảm

vợ chồng không còn nên chị Tr yêu cầu ly hôn với anh C.

Xét thấy, chị Nguyễn Huyền Tr và anh Huỳnh Văn C kết hôn trên cơ sở tự

nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia

đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Huỳnh

Văn C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật

nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr theo quy

định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa

án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị Tr và anh C theo

quy định của pháp luật nhưng anh C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Huỳnh Văn C không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị Tr và anh C nên lời trình bày của chị Tr về tình trạng hôn nhân giữa chị Tr và anh C là có cơ sở chấp nhận. Nói cách khác, đã có đủ căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị Tr và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị Tr yêu cầu ly hôn anh C phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Đối với con chung:

Chị Nguyễn Huyền Tr xác định chị Tr và anh C có 02 con chung tên

Huỳnh Thị Minh Th, sinh ngày 25/12/2010 và Huỳnh Hoàng Q, sinh ngày 19/9/2009, hiện nay đang sống với chị Tr. Khi ly hôn, chị Tr yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm

sóc, nuôi dưỡng sau khi chị Tr và anh C ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị Tr, từ khi vợ chồng sống ly thân, các con chung sinh sống với chị Tr cho đến nay nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng; quá trình sinh sống với chị Tr, các con chung vẫn phát triển bình thường. Đồng thời, các con chung đều có nguyện vọng được sống với chị Tr. Để ổn định cuộc sống cho cháu Th và cháu Q, giúp các cháu phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị Tr yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Huyền Tr là người trực tiếp

chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn nên anh Huỳnh Văn C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Nguyễn Huyền Tr không yêu cầu anh Huỳnh Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án

giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Huyền Tr phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia

đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271

và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn

Huyền Tr.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Huyền Tr được ly hôn anh Huỳnh

Văn C.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 186/KH.2012, ngày 30/11/2012 do

Ủy ban nhân dân phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp

cho chị Nguyễn Huyền Tr và anh Huỳnh Văn C không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Chị Nguyễn Huyền Tr được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con

chung tên Huỳnh Thị Minh Th, sinh ngày 25/12/2010 và Huỳnh Hoàng Q, sinh

ngày 19/9/2009. Hiện nay đang sống với chị Nguyễn Huyền Tr.

Anh Huỳnh Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Huyền Tr cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được

cản trở anh Huỳnh Văn C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

con chung.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ

quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con,

buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Huyền Tr phải chịu 300.000

(ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ

vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số

0012782 ngày 27/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự

vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười

lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy

định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ