- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/DS-ST Ngày: 22/02/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ X Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
1.Ông Đoàn Công Hòa
2.Bà Võ Thị Ngọc Mai
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên Tòa: Cao Quốc Thuận – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 265/2022/TLST-DS, ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXX-DS, ngày 07 tháng 02 năm 2023 giữa:
1/Nguyên đơn: Trần Chí T, sinh năm: 1950
Nơi cư trú: Số 150, đường 3/2, khu phố 5, TT.Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh
Bình Thuận.
2/Bị đơn: Nguyễn Thị R, sinh năm: 1959
Nơi cư trú: số 152, đường Lê lợi, khu phố 8, TT.Đức Tài, huyện Đức Linh,
tỉnh Bình Thuận.
3/Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Võ Thị X, sinh năm: 1962 (vợ ông Tài)
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Chí T, sinh năm: 1950
Cùng nơi cư trú: Số 150, đường 3/2, khu phố 5, TT.Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 01/02/2023; bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 30/01/2023.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai, biên bản không hòa giải được có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ông có quen biết với bà Nguyễn Thị R nên vào ngày 04/11/2017 (ÂL) ông có cho bà vay 20.000.000đồng và ngày 11/3/2018 ông cho vay thêm số tiền 41.220.000đồng. Khi bà R vay tiền của ông thì bà R có nói vay dùng mục đích để chi tiêu trong gia đình, còn thực tế vay dùng vào mục đích gì thì ông không biết. Khi ông cho vay, thì giấy vay đều do bà R viết và hai bên thỏa thuận lãi suất 3%/tháng; còn thời hạn vay là thỏa thuận bằng miệng là 1 năm. Sau khi ông cho vay được vài tháng thì ông có xuống nhà bà R nhiều lần để đòi tiền lãi, nhưng bà R không trả.Vì vậy, nay ông yêu cầu bà R phải trả cho ông số tiền 61.220.000đồng tiền gốc. Ông không yêu cầu tính lãi.
Theo biên bản lấy lời khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà Nguyễn Thị R trình bày: Toàn bộ chữ viết, chữ ký trong giấy vay tiền có bút lục số 08 và 09 có trong hồ sơ do ông T cung cấp cho Tòa án thì đúng là chữ ký, chữ viết của bà. Tổng số tiền 61.220.000 đồng mà ông T kiện bà trong 02 giấy vay tiền thì đều là tiền lãi mà bà phải có nghĩa vụ trả cho ông T trong số tiền gốc ban đầu bà vay của ông T là hơn 1 tỷ, nhưng do không có tiền trả tiền lãi nên ông T có nói bà có viết giấy vay tiền và còn thiếu là 61.220.000đồng, chứ thực ra đó là tiền lãi. Nay ông T khởi kiện buộc bà trả số tiền 61.220.000đồng thì bà đồng ý trả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh phát biếu ý kiến như sau:
-Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
-Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thì nguyên đơn, bị đơn, người liên qaun đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-Về nội dung vụ án:
+Quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án “ tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
+Về tiền gốc: Buộc bà Nguyễn Thị R phải trả cho ông Trần Chí T và bà Võ Thị X số tiền gốc 61.220.000đồng.
+Về án phí DSST: bà Nguyễn Thị R phải chịu án phí DSST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, những lời khai được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn và Kiểm Sát Viên tại phiên tòa;
Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Trần Chí T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 01/02/2023; bà Nguyễn Thị R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ngày 30/01/2023. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
Xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 04/10/2022 và các tài liệu chứng cứ cũng như lời khai của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét về nội dung vụ án:
Xét về lời khai của bà Nguyễn Thị R:
Giấy vay tiền ngày 04/11/2017 ÂL, bút lục số 09; giấy vay tiền ngày 11/3/2018 (bút lục số 08). Cả hai giấy vay tiền này thì bà R đều thừa nhận đúng là chữ ký và chữ viết của bà, nhưng bà cho rằng đây là số tiền lãi mà bà phải trả ông T, chứ không phải là tiền gốc do bà vay. Tuy nhiên bà không có chứng cứ nào để chứng minh đây là khoản tiền lãi. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận lời khai này của bà.
Xét về lời khai và chứng cứ của ông Trần Chí T.
Tuy trong Giấy vay tiền ngày 04/11/2017 ÂL, bút lục số 09; giấy vay tiền ngày 11/3/2018 (bút lục số 08), không có nội dung là tiền lãi. Mặt khác, ông cũng chỉ yêu cầu một mình bà R phải trả số tiền 61.220.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là có lợi cho bị đơn. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của ông.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận về tiền gốc. Vì vậy cần buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Vì vậy nguyên đơn không phải chịu án phí DSST.
Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu các bản án lệ do TAND tối cao công bố, không có vụ án nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật.
Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nội dung vụ án.Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm này.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 264, 266, 267 khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
1/ Buộc bà Nguyễn Thị R phải trả cho ông Trần Chí T và bà Võ Thị X tổng số tiền: 61.220.000đồng.
Kể từ ngày ông Trần Chí T và bà Võ Thị X có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng bà Nguyễn Thị R, phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 3.061.000đồng án phí DSST. Án phí nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Ông Trần Chí T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
3/Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yến công khai để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
4/Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thị hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu thị hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đức Linh; - Thi hành án DS huyện Đức Linh; - Các đương sự;. -Lưu hồ sơ, quyết định./. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Xuân Thuận |