- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Trần Thị N - Trần Văn H"
- Tòa quyết gì? Không ch p nhận kháng cáo của bà Cao Thị Ph, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành; Điều 106 Luật Đ t đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/DS-PT Ngày: 07- 03 - 2023 V v: Tranh ch p yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu và chia di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Anh Tu n
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Mai Hương
Bà Vũ Thị Thu
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 103/2022/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh ch p tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu và chia di sản thừa kế”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định có kháng cáo của bà Cao Thị Ph là bị đơn trong vụ án. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2023 QĐXXPT-DS ngày 28 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1953; địa chỉ: Xóm QH, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Mai Quyết C, sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm QH, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Theo văn bản uỷ quyền ngày 21/9/2022). Có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Trần Văn H, sinh năm 1971; địa chỉ: 14/10/9/3D đường 30 4, phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Có mặt.
2. Bà Cao Thị Ph, sinh năm 1972; địa chỉ thường trú: 14 10 9 3D đường 30/4, phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; địa chỉ liên lạc: Số 4 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đa Kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị Ph: Bà Phạm Thị Nh, sinh năm 1983; Địa chỉ liên hệ: Phòng 3.14, chung cư A9 Bắc Đinh Bộ Lĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị M, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm QH, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
2. Bà Trần Thị D, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm 6, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.
3. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1962; địa chỉ: 15/5/5/17 đường 30 4, phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt.
4. Bà Trần Thị H, sinh năm 1964; địa chỉ: 921/34A đường 30 4, phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt.
5. Bà Trần Thị Ng, sinh năm 1968; địa chỉ: 808B 19, phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H và bà Trần Thị Ng: Bà Trần Thị M, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm QH, xã HH, huyện HH, tỉnh Nam Định. (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 25/8/2022 và ngày 30/8/2022). Vắng mặt.
6. Bà Trần Thị L, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố số 7, thị tr n Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.
7. Uỷ ban nhân dân xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai Quốc Hưng – Chủ tịch UBND xã Hải Tân. Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Đinh Văn Tư, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm 2, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
2. Ông Phạm Văn Điện, sinh năm 1958; Địa chỉ: Xóm 4, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06 3 2022, đơn bổ sung đơn khởi kiện ngày 13 5 2022 và các ời khai trong quá tr nh tố tụng của nguyên đơn bà Trần Thị N và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Mai Quyết C trình bày: Cụ Trần Văn Tường, sinh năm 1931 và cụ Phạm Thị Thại (tên gọi khác Trần Thị Tường), sinh năm 1931 có 08 người con gồm: Bà Trần Thị M, bà Trần Thị N, bà Trần Thị D, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Ng, ông Trần Văn H và bà Trần Thị L. Hai cụ không có con nuôi, con riêng. Cụ Tường chết ngày 27/10/1982, cụ Thại chết ngày 12 4 2017 đều không để lại di chúc. Bố mẹ đẻ cụ Tường là cụ Trần Văn Tiêu, cụ Trần Thị Tý; bố mẹ đẻ cụ Thại là cụ Phạm Văn Ứng, cụ Phạm Thị Ứng không biết chính xác chết năm nào nhưng đều chết trước cụ Tường, cụ Thại. Khi còn sống, cụ Tường và cụ Thại có 01 thửa đ t diện tích 970m2 tại xóm Trần Thuần (nay là xóm 6), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu; nguồn gốc do tổ tiên để lại cho cụ Tường. Hai cụ có àm 01 căn nhà ở c p 4 trên đ t để ở, hiện đã sập đổ chỉ còn nền móng. Sau khi cụ Tường chết năm 1982, cụ Thại ở nhà đ t cùng 04 con chưa ập gia đ nh. Ông Trần Văn Đ sau khi lập gia đ nh riêng xây nhà ở trên đ t cùng mẹ, một thời gian sau đó bán ại căn nhà cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n và chuyển vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống. Năm 1997, cụ Thại (tức Tường) được UBND huyện Hải Hậu c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Năm 2014, do già yếu nên cụ Thại vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ở với ông Đại, nhà đ t để không ai ở, chỉ thi thoảng các con gái ở gần đến kiểm tra và hương khói cho tổ tiên. Năm 2017, cụ Thại chết ở Vũng Tàu. Đến năm 2020 chị em bà Nụ phát hiện thửa đ t của bố mẹ đã sang tên vợ chồng ông Hạ, bà Ph n từ khi nào không ai được biết, ông Hạ đã xác nhận không biết việc sang tên; các anh chị em đã yêu cầu ông Hạ, bà Ph n làm lại thủ tục huỷ gi y chứng nhận để trả lại đ t của bố mẹ để àm nơi thờ cúng chung, ông Hạ nh t trí nhưng bà Ph n không đồng ý. Ngoài ra, sau khi cụ Tường chết thì cụ Thại (tức Trần Thị Tường) được c p riêng đ t ruộng gồm thửa đ t số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 424m2 (đ t lúa) và thửa số 276 (4), tờ bản đồ số 17, diện tích 131m2 (đ t trồng cây hàng năm khác) đều có địa chỉ tại xóm Trần Thuần (nay là xóm 6), xã Hải Tân; đã c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CG 224802 ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường. Hai cụ không còn tài sản nào khác và không có khoản nợ nào để lại cho các con. Nay bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:
- Tuyên bố hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 giữa cụ Phạm Thị Thại (tức Trần Thị Tường) và vợ chồng ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph đối với thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 tại xóm Trần Thuần (nay là xóm 6), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu đã c p gi y chứng nhận cho ông Hạ, bà Ph n là vô hiệu.
- Chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn Tường và cụ Phạm Thị Thại (tức Trần Thị Tường) đối với thửa đ t số 398, diện tích 970m2 và chia di sản thừa kế của cụ Phạm Thị Thại đối với 02 thửa đ t nông nghiệp có tổng diện tích 555m2 theo pháp luật. Do 08 anh chị em đã thống nh t nhường toàn bộ thửa đ t số 398 cho bà Nụ và bà Lượt cùng sử dụng chung và nhường toàn bộ diện tích đ t nông nghiệp cho bà Dậu sử dụng mà không phải thanh toán giá trị phần di sản được chia cho các thừa kế khác nên bà Nụ yêu cầu Toà án chia hiện vật theo sự thoả thuận trên của các chị em bà.
Tại bản tự khai ngày 03/6/2022 và các lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Trần Văn H trình bày: Ông thống nh t với lời trình bày của bà Trần Thị N về mối quan hệ huyết thống gia đ nh; về thời điểm cụ Tường, cụ Thại chết; di sản của hai cụ để lại và hai cụ không có di chúc. Ông Hạ còn trình bày, ông và bà Ph n kết hôn năm 1991, vợ chồng ông ở nhà với cụ Thại đến năm 1996 th vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu àm ăn sinh sống, năm 1997 vợ chồng ông mua lại căn nhà của anh trai là ông Trần Văn Đ xây trên đ t của bố mẹ, đến năm 2008 th vợ chồng ông cắt chuyển hộ khẩu thường trú vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Việc ông đứng tên quyền sử dụng thửa số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 tại xã Hải Tân có nguồn gốc của bố mẹ là do vợ ông bà Cao Thị Ph tự ý làm thủ tục sang tên từ khi nào ông không được biết, ông không ký hồ sơ và cũng chưa được nhìn th y gi y chứng nhận đứng tên ông. Thời gian cuối đời từ năm 2014 đến khi chết năm 2017 thì cụ Thại do tuổi già trí nhớ lẫn lộn, lúc nhớ, lúc quên nên anh chị em thống nh t đưa mẹ vào tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở nhà ông Trần Văn Đ, có ở nhà ông được khoảng 01 tháng thì xảy ra mâu thuẫn mẹ chồng, con dâu nên mẹ ông lại về ở nhà ông Đại. Sau khi cụ Thại chết (năm 2017) th ông được bà Ph n nói đã sang tên vợ chồng thổ đ t của bố mẹ ở xã Hải Tân, ông yêu cầu xem gi y chứng nhận thì bà Ph n nói dối đang gửi chị gái ở quê, cố t nh không đưa ra; sau đó ông được biết ông Phạm Văn Điện nguyên cán bộ địa chính xã Hải Tân đang giữ bản chính gi y chứng nhận, ông đòi ại th ông Điện không giao. Nay ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N. Ông nh t trí nhường phần di sản được hưởng của bố mẹ cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L tại thửa số 398 mỗi người một nửa và nhường phần được chia thừa kế đ t nông nghiệp cho bà Trần Thị D sử dụng; không yêu cầu bà Nụ, bà Lượt và bà Dậu phải thanh toán giá trị di sản cho ông.
Tại các đơn đề nghị, đơn yêu cầu các ngày 20/6/2022, 11/7/2022 và 12/8/2022, bị đơn bà Cao Thị Ph trình bày: Bà đã được Toà án nhân đân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định thông báo là bị đơn trong vụ án “Tranh ch p yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu và chia di sản thừa kế”, bà yêu cầu chuyển vụ án đến Toà án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự à nơi cư trú của bà và ông Trần Văn H. Ngoài ra, bà Ph n có ý kiến kiến không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N với lý do: Thửa đ t số 142, tờ bản đồ số 13 và thửa số 276 (4), tờ bản đồ số 17 xã Hải Tân, huyện Hải Hâu, tỉnh Nam Định được c p gi y chứng nhận số CG 224802 ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường, thời điểm c p gi y chứng nhận thì ông Trần Văn Tường đã chết (ngày 27/10/1982) nên ông Tường không phải là chủ sử dụng tài sản này, đây không phải là di sản thừa kế của ông Tường do đó bà Nụ yêu cầu Toà án chia thừa kế di sản của ông Trần Văn Tường đối với hai thửa đ t trên à không có căn cứ. Đối với thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 cũng không phải là di sản thừa kế của ông Trần Văn Tường và bà Trần Thị Tường. Thửa đ t này đã c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 05/01/1997 cho hộ bà Trần Thị Tường, thời điểm c p gi y chứng nhận thì chồng bà Tường là ông Trần Văn Tường đã chết nên ông Tường không có tên trong hộ bà Tường. Khi bà Trần Thị Tường còn sống đã tự nguyện chuyển nhượng thửa đ t trên cho vợ chồng bà nên ngày 15/6/2006 vợ chồng bà đã được UBND huyện Hải Hậu c p gi y chứng nhận quyền sử dụng thửa đ t trên. Thực tế trong 970m2 đ t có 500m2 đ t của ông Trần Văn Đ đã nhờ bà Trần Thị Tường đứng tên, ông Đại đã bán nhà và đ t cho vợ chồng bà với giá 33 chỉ vàng (trong đơn ghi à 33 cây vàng) vào ngày 12 7 1997 âm ịch. Sau khi được c p gi y chứng nhận không ai có ý kiến phản đối cũng như b t cứ khiếu nại g đối với vợ chồng bà. Đến nay cũng đã hết thời hiệu khởi kiện tranh ch p yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu nên bà đề nghị Tòa án đ nh chỉ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 24/5/2022 và các lời khai trong quá trình tố tụng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị D trình bày: Bà thống nh t với lời trình bày của bà Trần Thị N về mối quan hệ huyết thống gia đ nh; về thời điểm cụ Tường, cụ Thại chết; di sản thừa kế của hai cụ để lại và hai cụ không có di chúc. Bà đồng ý với quan điểm chia di sản thừa kế của bà Trần Thị N và ông Trần Văn H. Bà nhường phần di sản được hưởng của bố mẹ cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L tại thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17 xã Hải Tân cho mỗi người một nửa, không yêu cầu thanh toán giá trị di sản cho bà. Bà đồng ý nhận sử dụng toàn bộ diện tích đ t nông nghiệp của cụ Thại do các anh chị em đã nhường lại cho bà.
Tại bản tự khai ngày 24/5/2022 và các lời khai trong quá trình tố tụng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L trình bày: Bà thống nh t với lời trình bày của bà Trần Thị N về mối quan hệ huyết thống gia đ nh; về thời điểm cụ Tường, cụ Thại chết; di sản thừa kế của hai cụ để lại và hai cụ không có di chúc. Bà đồng ý với quan điểm chia di sản thừa kế của bà Trần Thị N và ông Trần Văn H. Bà đồng ý nhận phần di sản được hưởng của bố mẹ do các anh chị nhường cho bà và bà Nụ sử dụng tại thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17 xã Hải Tân mỗi người là một nửa bằng nhau mà không phải thanh toán giá trị di sản. Bà đồng ý nhận sử dụng chung với bà Nụ khi chia thừa kế tại thửa số 398. Bà đồng ý với bà Nụ, ông Hạ, bà Mão và các anh chị em khác nhường toàn bộ đ t nông nghiệp cho bà Trần Thị D sử dụng, không yêu cầu bà Dậu phải thanh toán giá trị di sản.
Tại các bản tự khai ngày 27/5/2022, ngày 03/6/2022 và các lời khai trong quá trình tố tụng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Ng thống nh t trình bày: Các ông, bà nh t trí với lời trình bày của bà Trần Thị N về quan hệ huyết thống gia đ nh; về thời điểm cụ Tường, cụ Thại chết; di sản của hai cụ để lại và các cụ không để lại di chúc. Các ông, bà nh t trí với quan điểm của bà Trần Thị N và ông Trần Văn H yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 giữa cụ Trần Thị Tường và vợ chồng ông Hạ, bà Ph n vô hiệu và chia di sản thừa kế của cụ Tường, cụ Thại theo quy định pháp luật. Các ông, bà đồng ý nhường phần di sản được chia tại thửa số 398 cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L mỗi người được sử dụng một nửa; nhường phần di sản được chia đ t nông nghiệp cho bà Trần Thị D sử dụng; không yêu cầu bà Nụ, bà Lượt, bà Dậu phải thanh toán giá trị di sản.
Tại biên bản l y lời khai ngày 26/7/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Điện trình bày: Ông nguyên là cán bộ địa chính xã Hải Tân và có quan hệ họ hàng gần với cụ Phạm Thị Thại (tên gọi khác Trần Thị Tường) là mẹ đẻ bà Nụ, ông Hạ. Năm 2005, ông đang àm cán bộ địa chính xã Hải Tân thì cụ Trần Thị Tường có nhờ ông làm giúp thủ tục sang tên thửa đ t số 398, diện tích 970m2 tại xóm Trần Thuần (nay à xóm 6) đứng tên cụ Tường (đã c p gi y chứng nhận năm 1997) cho vợ chồng con trai là ông Hạ, bà Ph n. Khi làm thủ tục, bà Ph n là vợ ông Hạ có đưa cho ông 01 gi y sang nhượng nhà ở ngày 12/7/1997 âm lịch có nội dung vợ chồng ông Trần Văn Đ, bà Phạm Thị Sen (ông Đại là con trai cụ Tường) đồng ý sang nhượng cho em trai là Trần Văn H, Cao Thị Ph 01 căn nhà 68m2 trên khuôn viên thổ đ t của cụ Trần Thị Tường tại Đội 11, xã Hải Tân có diện tích 500m2 với giá 33 chỉ vàng. Do à người nhà nên ông đã viết hộ hồ sơ cho cụ Thại theo mẫu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t, viết hộ gi y uỷ quyền của cụ Trần Văn Tường (là chồng cụ Thại) cho cụ Thại và đưa cho cụ Thại (tức Trần Thị Tường) điểm chỉ d u vân tay (do cụ Thại không biết chữ). Ông thừa nhận đã ghi tên cụ Trần Văn Tường là bên chuyển nhượng trong khi cụ Tường đã chết từ năm 1982 à có sai sót. Do đã âu nên ông không nhớ có đưa hồ sơ cho ông Hạ, bà Ph n ký tên hay không; không nhớ ai đã ký tên cụ Trần Văn Tường trong hồ sơ. Hồ sơ của cụ Thại do ông trực tiếp mang đi xin xác nhận của các cơ quan chức năng để hoàn thiện thủ tục xin c p đổi gi y chứng nhận. Sau khi ông Hạ, bà Ph n được c p gi y chứng nhận, ông cũng trực tiếp đi y về giao lại cho bà Ph n. Sau khi cụ Thại chết thì các con cụ Thại mâu thuẫn về đ t đai. Do th y mâu thuẫn phức tạp nên ông yêu cầu bà Ph n gửi lại bản chính gi y chứng nhận để kiểm tra lại. Khi bà Ph n gửi về thì ông giữ lại với mục đích trực tiếp bàn giao cho cơ quan chức năng giải quyết tranh ch p tránh hậu quả về sau. Bà Ph n và ông Hạ có nhiều lần yêu cầu ông trả lại gi y chứng nhận nhưng ông không đồng ý, nay ông giao lại cho Toà án quản ý để phục vụ việc giải quyết tranh ch p.
Tại văn bản ý kiến số 53/BC-UBND ngày 18 8 2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã Hải Tân trình bày: Theo Bản đồ địa chính lập năm 1991 (chỉnh ý năm 1997) và Sổ địa chính lập ngày 20/01/1997 của xã Hải Tân thì cụ Trần Thị Tường đứng tên sử dụng thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 (gồm đ t ở 360m2, đ t vườn 310m2, đ t ao 300m2). Nguồn gốc đ t do ông cha để lại. Ngày 15/01/1997, UBND huyện Hải Hậu đã c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với thửa đ t trên cho hộ cụ Trần Thị Tường; ngoài ra cụ Tường còn được c p gi y chứng nhận đối với 03 thửa đ t nông nghiệp (trồng lúa) với tổng diện tích 566m2. Sau khi địa phương thực hiện dồn điền đổi thửa thì cụ Trần Thị Tường được chia 02 thửa với tổng diện tích 555m2. Cụ Tường đã được c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nông nghiệp năm 2016. Ngày 05/6/2006, cụ Trần Thị Tường đã chuyển quyền sử dụng toàn bộ thửa đ t số 398 cho con trai là vợ chồng ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph; có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và có xác nhận của UBND xã Hải Tân. Ông Hạ, bà Ph n được c p gi y chứng nhận ngày 15 6 2006 đối với thửa số 398, diện tích 970m2 (gồm đ t ở 360m2, đ t vườn 310m2, đ t ao 300m2). Từ khi ông Hạ, bà Ph n được c p gi y chứng nhận đến nay thửa đ t không có giao dịch chuyển quyền, không có tranh ch p ranh giới với hộ liền kề. Hiện tại vợ chồng ông Hạ, bà Ph n không sinh sống tại địa phương. Thửa đ t trên không có ai ở. Năm 2020 ông Trần Văn Đ là con của cụ Tường có đơn gửi UBND xã Hải Tân yêu cầu ngăn chặn việc vợ chồng ông Hạ, bà Ph n chuyển quyền sử dụng thửa đ t số 398 với ý do gia đ nh đang có tranh ch p. Đầu năm 2022 các con của cụ Tường có đơn đề nghị UBND xã cung c p tài liệu iên quan đến thửa đ t số 398 để khởi kiện đến Tòa giải quyết tranh ch p chia thừa kế. Về việc UBND xã Hải Tân có xác nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t giữa cụ Trần Thị Tường và vợ chồng ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph lập ngày 05/6/2006. Thời điểm đó cán bộ địa chính xã là ông Phạm Văn Điện (đã nghỉ hưu trí) và chủ tịch UBND xã Hải Tân à ông Đinh Văn Tư (đã nghỉ hưu trí) ký xác nhận hồ sơ. Đến nay UBND xã Hải Tân không ưu giữ tài liệu nào liên quan đến việc xác nhận, chứng thực của ông Điện, ông Tư đối với hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đ t trên. UBND xã Hải Tân đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Do bận công việc nên UBND xã Hải Tân đề nghị không tham gia các phiên họp, hòa giải và các phiên tòa xét xử vụ án tại Tòa án các c p.
Tại biên bản l y lời khai ngày 26 7 2022, người làm chứng ông Đinh Văn Tư tr nh bày: Ông nguyên là chủ tịch UBND xã Hải Tân giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2014. Ông không quen biết với bà Trần Thị N và vợ chồng ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph. Ông công nhận chữ ký và đóng d u với tư cách à chủ tịch UBND xã Hải Tân trong hồ sơ chuyển nhượng ngày 05/6/2006 giữa cụ Trần Thị Tường và ông Hạ, bà Ph n là do ông ký xác nhận nhưng việc kiểm tra hồ sơ à do cán bộ địa chính xã thực hiện, sau khi cho các bên ký hồ sơ th cán bộ địa chính xã trình hồ sơ để ông ký chứng thực của UBND xã, ông không trực tiếp làm việc với các bên trong hợp đồng chuyển nhượng trên. Nay các bên tranh ch p ông đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Tại Công văn số 777/UBND-TNMT ngày 22/9/2022, UBND huyện Hải Hậu có ý kiến: Thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 (gồm đ t ở nông thôn 360m2, đ t trồng cây âu năm 310m2, đ t nuôi trồng thuỷ sản 300m2 đã được UBND huyện Hải Hậu c p gi y chứng nhận quyết sử dụng đ t số L 224569 mang tên hộ bà Trần Thị Tường. Ngày 05/6/2006, ông Trần Văn Tường uỷ quyền cho bà Trần Thị Tường (là vợ) đại diện thực hiện quyền của người sử dụng đ t cho con trai là Trần Văn H được quyền sử dụng thửa số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2. Cùng ngày UBND xã Hải Tân xác nhận bà Trần Thị Tường và ông Trần Văn Tường ký đơn chia tách quyền sử dụng đ t cho con trai là Trần Văn H và con dâu là Cao Thị Ph tại thửa đ t trên. Trên cơ sở hồ sơ đã được các cơ quan thẩm định, ngày 15/6/2006 UBND huyện Hải Hậu ban hành Quyết định số 1430 2006 QĐ-UBND về việc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho hộ ông Trần Văn H. Nay UBND huyện Hải Hậu đề nghị Toà án xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2022/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 122, 128, 223, 689, 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 611, 612, 613, 650, 651, 660 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 106, Điều 167, Điều 168, Điều 170 của Luật Đ t đai năm 2013; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N đối với ông Trần Văn H và bà Cao Thị Ph.
2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 giữa cụ Trần Thị Tường (tức Phạm Thị Thại) và vợ chồng ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph vô hiệu một phần đối với diện tích 431m2 đ t (gồm đ t ONT.160m2, đ t CLN.271m2) thuộc thửa số 398, tờ bản đồ số 17, có diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph.
3. Công nhận vợ chồng ông Trần Văn H và bà Cao Thị Ph có quyền sử dụng diện tích 539m2 đ t (gồm đ t ONT.200m2, đ t CLN.39m2, đ t NTS.300m2) thuộc thửa số 398, tờ bản đồ số 17, có diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph.
Ranh giới đ t cụ thể như sau: Phía Bắc giáp phần đ t chia cho bà Nụ, bà Lượt dài 28,8m; phía Đông giáp đường bê tông xóm dài 24,8m + 3,8m + 2,8m; phía Nam giáp đường xóm dài 15m; phía Tây giáp thửa số 399 của bà Tin và thửa số 400 của ông Thứ dài 9,7m + 2,2m + 3,2m + 8,1m + 2,2m + 2,4m + 0,7m + 3,2m + 1,4m. (Được ký hiệu S2 trên sơ đồ kèm theo bản án).
4. Giao cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L được quyền sử dụng chung diện tích 431m2 đ t (gồm đ t ONT.160m2, đ t CLN.271m2) thuộc thửa số 398, tờ bản đồ số 17, có diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph có trị giá 862.000.000 đồng. Trong đó tỷ lệ sở hữu của bà Trần Thị N và bà Trần Thị L mỗi người 50% là 215,5m2 đ t. Bà Trần Thị N và bà Trần Thị L được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đ t gồm có 01 nhà mái bằng diện tích 49,64m2 và 01 bếp lợp phibro xi măng diện tích 15m2 đều không còn giá trị.
Ranh giới đ t cụ thể như sau: Phía Bắc giáp thửa số 396 của ông Lưỡng dài 5,6m + 36,0m; phía Đông giáp đường bê tông xóm dài 11,2m + 1,9m; phía Nam giáp phần đ t chia cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n dài 28,8m; phía Tây giáp thửa số 400 của ông Thứ và thửa số 401 đ t hai úa dài 5,4m + 12,3m + 4,4m. (Được ký hiệu S1 trên sơ đồ kèm theo bản án).
5. Giao cho bà Trần Thị D được quyền sử dụng 02 thửa đ t nông nghiệp có tổng diện tích 555m2 trị giá 27.750.000đ (Hai mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi ngh n đồng) gồm: Thửa đ t số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 424m2 (đ t lúa) và thửa đ t số 276 (4), tờ bản đồ số 17, diện tích 131m2 (đ t trồng cây hàng năm khác) tại xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CG 224802 c p ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường.
6. Các đương sự có trách nhiệm đăng ký àm thủ tục c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với diện tích đ t được giao theo quyết định của bản án tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
7. Về nghĩa vụ bàn giao: Ông Trần Văn H và bà Cao Thị Ph có trách nhiệm bàn giao diện tích đ t và tài sản gắn liền với đ t được chia theo quyết định của bản án cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L sử dụng.
Bà Trần Thị N có trách nhiệm giao lại bản chính gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CG 224802 c p ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường cho bà Trần Thị D và giao lại bản chính gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph (do ông Phạm Văn Điện giao nộp cho Toà án và đã được giao lại cho bà Trần Thị N quản lý) cho ông Hạ, bà Ph n để làm thủ tục c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t khi có yêu cầu.
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 03/10/2022, bà Cao Thị Ph àm đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm, giải quyết lại vụ án công tâm, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Tại phiên tòa, người được bà Cao Thị Ph ủy quyền trình bày: Bà Trần Thị N không có quyền khởi kiện, đ t này có nguồn gốc của cha ông để lại cho vợ chồng cụ Tường. Năm 1982 cụ Tường m t, đến năm 1997 Uỷ ban nhân dân huyện Hải Hậu c p cho hộ bà Trần Thị Tường. Tại thời điểm này áp dụng Luật Đ t đai năm 1993 và Bộ luật dân sự năm 1995 cần phải xác định hộ cụ Tường gồm những ai. Vì vậy, bà Trần Thị N hoàn toàn không có quyền khởi kiện; Xác định đây không phải là di sản thừa kế với lý do: Cụ Trần Thị Tường đã chuyển nhượng quyền sử dụng đ t cho vợ chồng bà Cao Thị Ph từ năm 2006, khi còn sống thì cụ Tường không còn là chủ sử dụng quyền sử dụng đ t thửa đ t số 398 diện tích 970m2. Việc bà Nụ khởi kiện chia thừa kế à không đúng với qui định của pháp luật hiện hành. Cụ Tường không còn tài sản thì khi chết không có di sản nên không chia thừa kế. Việc chuyển nhượng của cụ Tường là tự nguyện và không có ai phản đối hoặc khiếu nại gì. Vợ chồng bà Cao Thị Ph đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Do không phải là di sản thừa kế nên bà Ph n không phải là bị đơn trong vụ án; Năm 2012, ông Hạ àm văn bản ủy quyền cho bà Ph n bán đ t thì ông Hại phải biết đ t đó à của vợ chồng. Tòa án c p sơ thẩm đã xác định sai tư cách tham gia tố tụng; Tóm lại, bà Ph n đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.
Các đương sự: Ông Chiến, bà Dậu, bà Lượt không có ý kiến tranh luận gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã ch p hành đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX không ch p nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí đương sự phải nộp theo qui định pháp luât.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Cao Thị Ph có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được ch p nhận. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Xét nội dung kháng cáo của bà Cao Thị Ph:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Bà Trần Thị N khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 giữa cụ Trần Thị Tường và ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph vô hiệu và chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn Tường và cụ Phạm Thị Thại (tức Trần Thị Tường) theo pháp luật. Tài sản tranh ch p là b t động sản có địa chỉ tại Xóm 6, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Đây à quan hệ pháp luật “Tranh ch p về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu và chia di sản thừa kế” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu theo định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Cao Thị Ph yêu cầu chuyển vụ án đến Toà án nơi bị đơn cư trú à không có căn cứ ch p nhận.
Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H và bà Trần Thị Ng, người đại diện theo pháp luật của UBND xã Hải Tân (có đơn xin xử vắng mặt); người làm chứng ông Đinh Văn Tư vắng mặt tại phiên toà nhưng đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt những người tham gia tố tụng trên là phù hợp pháp luật.
[2.3] Về thời hiệu khởi kiện: Trước khi Tòa án c p sơ thẩm ra bản án, các đương sự trong vụ án không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu thừa kế nên không xem xét áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo lời trình bày của các đương sự, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đ t đai huyện Hải Hậu, UBND xã Hải Tân cung c p thì thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định có nguồn gốc của cụ Trần Văn Tường và cụ Phạm Thị Thại (tức Trần Thị Tường) do được tổ tiên để lại cho hai cụ. Sau khi cụ Trần Văn Tường chết (năm 1982), cụ Trần Thị Tường quản lý sử dụng và được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ngày 15 01 1997 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường. Đến ngày 15/6/2006 thì toàn bộ thửa đ t số 398, diện tích 970m2 đã được UBND huyện Hải Hậu c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph.
Ngoài ra, cụ Phạm Thị Thại (tức Trần Thị Tường) còn được c p gi y chứng nhận ngày 15/01/1997 gồm 03 thửa đ t nông nghiệp (trồng lúa) với tổng diện tích 566m2. Sau khi địa phương thực hiện dồn điền đổi thửa thì cụ Thại được chia 02 thửa đ t nông nghiệp với tổng diện tích 555m2gồm thửa số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 424m2 (đ t lúa) và thửa đ t số 276 (4), tờ bản đồ số 17, diện tích 131m2 (đ t trồng cây hàng năm khác) có vị trí tại xóm Trần Thuần (nay là xóm 6), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định và cụ Thại đã được c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CG 224802 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường. Hai cụ không còn tài sản nào khác và không để lại khoản nợ nào.
Các đương sự bà Nụ, ông Hạ, bà Mão, bà Dậu, ông Đại, bà Hường, bà Nga và bà Lượt đều cho rằng do cụ Thại già yếu, trí óc không còn minh mẫn và không biết chữ nên có thể đã bị bà Cao Thị Ph (vợ ông Hạ) lừa dối điểm chỉ vào gi y tờ để bà Ph n làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đ t thửa số 398; chính ông Hạ không biết việc sang tên và cũng không ký b t cứ gi y tờ g nhưng hồ sơ c p gi y chứng nhận lại có chữ ký của ông Hạ và chữ ký của cụ Trần Văn Tường trong khi cụ Tường đã chết năm 1982 à hoàn toàn giả mạo chữ ký nên các đương sự yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 giữa cụ Thại và ông Hạ, bà Ph n bị vô hiệu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Điện nguyên là cán bộ địa chính xã Hải Tân khẳng định chính cụ Thại à người nhờ ông làm thủ tục sang tên thửa đ t số 398 cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n và cụ Thại đã điểm chỉ d u vân tay vào hồ sơ xin chuyển quyền do không biết chữ; còn ông Hạ, bà Ph n có ký hồ sơ chuyển nhượng hay không do đã âu ông không nhớ. Tuy nhiên ông Điện cũng thừa nhận việc ông viết hộ hồ sơ đã ghi tên cụ Trần Văn Tường (là chồng cụ Thại) trong hồ sơ chuyển nhượng đ t khi cụ Tường đã chết từ năm 1982 à có sai sót.
Tuy bà Nụ, ông Hạ, bà Mão, bà Dậu, ông Đại, bà Hường, bà Nga và bà Lượt đều không thừa nhận cụ Thại lập hợp đồng chuyển nhượng đ t ngày 05/6/2006 cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n nhưng trong quá tr nh giải quyết vụ án mặc dù đã được giải thích nhưng các đương sự cũng không yêu cầu Toà án trưng cầu giám định mẫu d u vân tay của cụ Thại với lý do cụ Thại đã chết không có gi y tờ pháp ý nào để lại làm mẫu so sánh và cũng không đưa ra được chứng cứ nào khác ngoài lời khai của m nh để chứng minh trong khoảng thời gian tháng 06/2006 cụ Thại sức khoẻ yếu, không còn minh mẫn nên đã bị bà Ph n lừa điểm chỉ vào hồ sơ chuyển nhượng đ t. Trong khi đó ông Phạm Văn Điện nguyên cán bộ địa chính xã Hải Tân còn có mối quan hệ họ hàng gần với cụ Thại (có quan hệ con chú, con bác ruột) đã có ời khai khẳng định chính cụ Thại đã nói với ông Điện làm giúp thủ tục sang tên thửa đ t số 398 cho con trai là ông Hạ, bà Ph n; cụ Thại đã trực tiếp điểm chỉ vào hồ sơ. Mặt khác từ thời điểm lập hồ sơ chuyển nhượng đ t ngày 05 6 2006 đến khi cụ Thại chết (ngày 12 4 2017) à hơn 10 năm thì cụ Thại vẫn sinh sống tại xóm 6, xã Hải Tân cho đến năm 2014 mới vào tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ở với các con, việc thu hồi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đã c p cho cụ Thại để c p đổi lại gi y chứng nhận mới cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n thì không thể các con cụ Thại không biết vì lời khai tại phiên toà các đương sự đã khẳng định trước đó ông Đại giữ gi y chứng nhận của cụ Thại, sau đó bà Ph n hỏi mượn tách đ t ruộng nên ông Đại giao cho bà Ph n nhưng trong hơn 10 năm không hỏi bà Ph n để l y lại gi y chứng nhận là không hợp lý. Kết quả xác minh tại UBND xã Hải Tân ngày 13 7 2022 còn ưu giữ “Đơn yêu cầu ngăn chặn chuyển nhượng quyền sử dụng đ t và nhà trên đ t” của các con cụ Trần Thị Tường ngày 20/7/2020 có ghi lý do cụ Trần Thị Tường tự ý ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n mà chưa được sự đồng ý của các con. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở khẳng định cụ Thại có lập hợp đồng chuyển nhượng đ t cho ông Hạ, bà Ph n ngày 05/6/2006 là có thật, hợp đồng có hình thức phù hợp quy định tại Điều 689 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 127 Luật Đ t đai năm 2003. Còn hợp đồng chuyển nhượng có ghi tên cụ Trần Văn Tường (chồng cụ Thại) là bên chuyển nhượng và gi y uỷ quyền của cụ Trần Văn Tường cho cụ Trần Thị Tường (tức Thại) ngày 05 6 2006 khi đó cụ Tường đã chết à không đúng quy định của pháp luật nên không có giá trị pháp lý.
Xét về nội dung hợp đồng, cụ Phạm Thị Thại đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n toàn bộ thửa đ t số 398, diện tích 970m2 tại xóm 6, xã Hải Tân là tài sản chung của cụ Tường và cụ Thại. Tuy nhiên tại thời điểm chuyển nhượng ngày 05/6/2006 thì cụ Tường đã chết, di sản thừa kế của cụ Tường chưa được các thừa kế phân chia nên thửa đ t trên là tài sản chung theo phần của cụ Thại và các đồng thừa kế của cụ Tường nhưng cụ Thại đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đ t số 398 cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n mà không có ý kiến đồng ý của t t cả các con à đã vi phạm quyền định đoạt tài sản chung theo quy định tại Điều 223 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Theo quy định pháp luật thì cụ Thại chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ Thại là 1/2 diện tích thửa đ t và phần cụ Thại được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Tường tổng cộng là: 485m2 + 53,88m2 = 539m2 (đã àm tròn số) nhưng cụ Thại đã định đoạt cả phần diện tích 431m2 đ t thuộc quyền sở hữu, sử dụng của các thừa kế khác của cụ Tường là vi phạm điều c m của pháp luật theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật Dân sự năm 2005 nên bị vô hiệu đối với phần diện tích đ t vượt quá quyền định đoạt này. Do đó có cơ ch p nhận một phần yêu cầu của bà Trần Thị N về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 vô hiệu. Đối với diện tích 539m2 (đã àm tròn số) tại thửa số 398 cụ Thại có quyền chuyển nhượng và đã chuyển nhượng cho ông Hạ, bà Phân, đến nay ông Hạ, bà Ph n đã được c p gi y chứng nhận nên được quyền sử dụng.
Bị đơn bà Cao Thị Ph cho rằng thời hiệu yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t vô hiệu đã hết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật Dân sự năm 2015 à không đúng. Do nội dung hợp đồng vi phạm điều c m của pháp luật nên theo quy định tại Điều 128 và Điều 136 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (nay à Điều 123 và Điều 132 của Bộ luật Dân sự năm 2015) th thời hiệu yêu cầu giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế. Do đó bị đơn yêu cầu đ nh chỉ giải quyết do hết thời hiệu à không có căn cứ.
Về di sản thừa kế: Các đương sự thống nh t tài sản chung của cụ Trần Văn Tường và cụ Phạm Thị Thại có thửa đ t số 398, tờ bản đồ số 17, diện tích 970m2 (gồm đ t ở 360m2, đ t vườn 310m2, đ t ao 300m2) tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Tuy nhiên sau khi cụ Tường chết, cụ Thại đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đ t 398 cho ông Hạ, bà Ph n. Như đã phân tích ở trên thì cụ Thại chỉ có quyền chuyển nhượng diện tích 539m2 thuộc quyền sở hữu, sử dụng của mình, cụ Thại đã chuyển nhượng cho ông Hạ, bà Ph n nên phần di sản của cụ Thại không còn. Còn lại diện tích 431m2 là di sản của cụ Trần Văn Tường chưa được phân chia cho các thừa kế khác (trừ cụ Thại đã chuyển nhượng phần di sản thừa kế của mình) nên di sản của cụ Tường vẫn còn. Đối với 02 thửa đ t nông nghiệp có tổng diện tích 555m2 đã c p gi y chứng nhận ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường, các đương sự đều thống nh t mặc dù đ t ruộng c p cho hộ cụ Trần Thị Tường nhưng cụ Trần Văn Tường đã chết từ năm 1982 nên không được chia ruộng, các con cũng được chia đ t ruộng riêng, diện tích đ t ruộng trên là tiêu chuẩn riêng của cụ Thại. Do đó có cơ sở xác định 02 thửa đ t nông nghiệp có tổng diện tích 555m2 là tài sản riêng của cụ Thại (tức Trần Thị Tường), cụ Thại đã chết nhưng di sản trên chưa được phân chia. Ngoài ra các đương sự thống nh t cụ Tường và cụ Thại không còn tài sản nào khác và không để lại khoản nợ nào.
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/7/2022 thì trên thửa đ t số 398 có 01 nhà mái bằng 49,64m2 và 01 bếp 15m2 đều đã xuống c p không còn giá trị; các đương sự đều không yêu cầu chia do đó không xem xét, nếu chia hiện vật thuộc phần đ t của ai th người đó được sử dụng. Kết quả định giá tài sản ngày 26/7/2022 thì trị giá 431m2 đ t tại thửa 398 có trị giá: 431m2 x 2.000.000 đồng/m2 = 862.000.000 đồng; trị giá 555m2 đ t nông nghiệp là: 555m2 x 50.000 đồng/m2.
Do cụ Tường và cụ Thại chết không để lại di chúc nên di sản của hai cụ được chia theo pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về người thừa kế: Các đương sự thống nh t xác định cụ Trần Văn Tường và cụ Phạm Thị Thại có 08 người con gồm: Bà Trần Thị M, bà Trần Thị N, bà Trần Thị D, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Ng, ông Trần Văn H và bà Trần Thị L. Hai cụ không có con nuôi, con riêng. Bố mẹ đẻ của cụ Tường và bố mẹ đẻ cụ Thại đều chết trước hai cụ. Theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tại thời điểm cụ Tường chết ngày 27 10 1982 th người thừa kế hàng thứ nh t của cụ Tường là cụ Thại, bà Mão, bà Nụ, bà Dậu, ông Đại, bà Hường, bà Nga, ông Hạ, bà Lượt. Tại thời điểm cụ Thại chết ngày 12/4/2017 thì người thừa kế hàng thứ nh t của cụ Thại là bà Mão, bà Nụ, bà Dậu, ông Đại, bà Hường, bà Nga, ông Hạ, bà Lượt.
Trong qua trình giải quyết vụ án bà Trần Thị M, bà Trần Thị D, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Ng, ông Trần Văn H tự nguyện tặng cho phần di sản được hưởng theo pháp luật đối với di sản của cụ Tường cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L mỗi người một nửa; bà Trần Thị M, bà Trần Thị N, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Ng, ông Trần Văn H, bà Trần Thị L tự nguyện tặng cho phần di sản được hưởng theo pháp luật đối với di sản của cụ Thại cho bà Trần Thị D; không yêu cầu bà Nụ, bà Lượt và bà Dậu thanh toán giá trị. Bà Nụ, bà Lượt và bà Dậu đều đồng ý nhận tặng cho đ t của các thừa kế khác. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.
Về công sức duy trì, bảo quản di sản: Các đương sự đều không có yêu cầu gì về công sức duy trì, bảo quản di sản và chăm sóc người để lại di sản nên không đặt ra xem xét.
Về yêu cầu chia hiện vật: Bà Trần Thị N, bà Trần Thị L có yêu cầu chia đ t tại thửa số 398 để sử dụng; bà Trần Thị D có yêu cầu chia đ t nông nghiệp để sử dụng; các thừa kế khác bà Trần Thị M, ông Trần Văn Đ, bà Trần Thị H, bà Trần Thị Ng và ông Trần Văn H đều nh t trí nhường phần di sản được hưởng cho bà Nụ, bà Lượt và bà Dậu sử dụng. Bà Nụ và bà Lượt cùng đề nghị sử dụng chung đ t di sản thừa kế nên cần ch p nhận yêu cầu chia hiện vật của các đương sự như trên à phù hợp với ý chí các đương sự và hiện trạng tài sản.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xác định quan hệ pháp luật, tư cách của những người tham gia tố tụng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sư.
Về nội dụng: Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu đã áp dụng qui định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX không phát hiện tháy sai sót g . Người kháng cáo bà Cao Thị Ph không xu t trình thêm tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ ch p nhận kháng cáo. HĐXX quyết định giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Về án phí: Kháng cáo không được ch p nhận nên bà Cao Thị Ph phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ vào các Điều 122, 128, 223, 689, 692 của Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 611, 612, 613, 650, 651, 660 và 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm d khoản 2 Điều 106, Điều 167, Điều 168, Điều 170 của Luật Đ t đai năm 2013; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
1. Không ch p nhận kháng cáo của bà Cao Thị Ph, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị N đối với ông Trần Văn H và bà Cao Thị Ph.
3. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 05/6/2006 giữa cụ Trần Thị Tường (tức Phạm Thị Thại) và vợ chồng ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph vô hiệu một phần đối với diện tích 431m2 đ t (gồm đ t ONT.160m2, đ t CLN.271m2) thuộc thửa số 398, tờ bản đồ số 17, có diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph.
4. Công nhận vợ chồng ông Trần Văn H và bà Cao Thị Ph có quyền sử dụng diện tích 539m2 đ t (gồm đ t ONT.200m2, đ t CLN.39m2, đ t NTS.300m2) thuộc thửa số 398, tờ bản đồ số 17, có diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph.
Ranh giới đ t cụ thể như sau: Phía Bắc giáp phần đ t chia cho bà Nụ, bà Lượt dài 28,8m; phía Đông giáp đường bê tông xóm dài 24,8m + 3,8m + 2,8m; phía Nam giáp đường xóm dài 15m; phía Tây giáp thửa số 399 của bà Tin và thửa số 400 của ông Thứ dài 9,7m + 2,2m + 3,2m + 8,1m + 2,2m + 2,4m + 0,7m + 3,2m + 1,4m. (Được ký hiệu S2 trên sơ đồ kèm theo bản án).
5. Giao cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L được quyền sử dụng chung diện tích 431m2 đ t (gồm đ t ONT.160m2, đ t CLN.271m2) thuộc thửa số 398, tờ bản đồ số 17, có diện tích 970m2 tại xóm 6 (xóm Trần Thuần cũ), xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph có trị giá 862.000.000 đồng. Trong đó tỷ lệ sở hữu của bà Trần Thị N và bà Trần Thị L mỗi người 50% là 215,5m2 đ t. Bà Trần Thị N và bà Trần Thị L được quyền sở hữu tài sản gắn liền với đ t gồm có 01 nhà mái bằng diện tích 49,64m2 và 01 bếp lợp phibro xi măng diện tích 15m2 đều không còn giá trị.
Ranh giới đ t cụ thể như sau: Phía Bắc giáp thửa số 396 của ông Lưỡng dài 5,6m + 36,0m; phía Đông giáp đường bê tông xóm dài 11,2m + 1,9m; phía Nam giáp phần đ t chia cho vợ chồng ông Hạ, bà Ph n dài 28,8m; phía Tây giáp thửa số 400 của ông Thứ và thửa số 401 đ t hai lúa dài 5,4m + 12,3m + 4,4m. (Được ký hiệu S1 trên sơ đồ kèm theo bản án).
6. Giao cho bà Trần Thị D được quyền sử dụng 02 thửa đ t nông nghiệp có tổng diện tích 555m2 trị giá 27.750.000đ (Hai mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi ngh n đồng) gồm: Thửa đ t số 142, tờ bản đồ số 13, diện tích 424m2 (đ t lúa) và thửa đ t số 276 (4), tờ bản đồ số 17, diện tích 131m2 (đ t trồng cây hàng năm khác) tại xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định theo theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CG 224802 c p ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường.
7. Các đương sự có trách nhiệm đăng ký àm thủ tục c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đối với diện tích đ t được giao theo quyết định của bản án tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
8. Về nghĩa vụ bàn giao: Ông Trần Văn H và bà Cao Thị Ph có trách nhiệm bàn giao diện tích đ t và tài sản gắn liền với đ t được chia theo quyết định của bản án cho bà Trần Thị N và bà Trần Thị L sử dụng.
Bà Trần Thị N có trách nhiệm giao lại bản chính gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số CG 224802 c p ngày 23 9 2016 đứng tên hộ bà Trần Thị Tường cho bà Trần Thị D và giao lại bản chính gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số AĐ 231744 c p ngày 15 6 2006 đứng tên ông Trần Văn H, bà Cao Thị Ph (do ông Phạm Văn Điện giao nộp cho Toà án và đã được giao lại cho bà Trần Thị N quản lý) cho ông Hạ, bà Ph n để làm thủ tục c p đổi gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t khi có yêu cầu.
9. Về án phí: Căn cứ Điều 12, Điều 26, Điều 27, Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Bà Cao Thị Ph phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, bà Ph n đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006340 ngày 13/10/2022 của Chi cục thi hành án huyện Hải Hậu được đối trừ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Mai Anh Tuấn
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Nam Định;
- VKSND-TAND huyện Hải Hậu;
- Chi cụcTHADS huyện Hải Hậu;
- Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.
Mai Anh Tuấn Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Nam Định;
- VKSND-TAND huyện Hải Hậu;
- Chi cụcTHADS huyện Hải Hậu;
- Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.
Mai Anh Tuấn
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND-TAND huyện Hải Hậu; - Chi cụcTHADS huyện Hải Hậu; - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. THẨM PHÁN SƠ ĐỒ PHÂN CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Tại thửa số 398, tờ bản đồ số 7 tại xóm 6, xã Hải Tân, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (Kèm theo Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2023/DS-PT ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Anh Tuấn THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Anh Tuấn |