vanban.org

Bản án 23/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/7/2021. Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyện Việt D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HSST.
Ngày: 20 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tráng A Lứ và bà Trịnh Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2022/TLST- ST ngày 06 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Việt D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1998, tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Tiểu khu H, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ văn hoá: 8/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Con ông Nguyễn Duy H và bà Phạm Thị Th, bị cáo có vợ là Bùi Thị H Thảo và 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vân Hồ từ ngày 13/7/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Th và Ông Nguyễn Duy H; Nơi cư trú: Tiểu khu H, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ, ngày 13/7/2021 tổ Tổ công tác Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản Chiềng Đi 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, dừng xe máy BKS 26G1 – 256.07 do Nguyễn Việt D điều khiển để kiểm tra. Quá trình kiểm tra Nguyễn Việt D tự giác giao nộp cho tổ công tác: 01 vỏ thuốc lào nhãn hiệu Xuân Hân, bên trong đựng 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 10 viên nén màu hồng, D khai nhận là ma túy (Hồng phiến). Tạm giữ của Nguyễn Việt D: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 Pro kèm 01 sim; 01 xe máy hiệu WAVE, BKS: 26G1-256.07.

Ngày 13/7/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng số viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Việt D được như sau: 10 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Việt D có khối lượng là 01 gam lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu D bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Tại kết luận giám định số 1286 ngày 15/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu D là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là D = 01 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 01 gam loại Methamphetamine, hoàn lại mẫu gửi giám định có khối lượng 0,2 gam:

Quá trình điều tra Nguyễn Việt D khai nhận: Vào khoàng 22 giờ ngày 13/7/2021, D đang ở nhà tại tiểu khu Hoa Ban, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thì bạn của D là Nguyễn Duy B, sinh năm: 1997, trú tại: Tiểu khu H, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La gọi qua ứng dụng mang xã hội Messenger cho D hẹn gặp tai khu vực cổng chào Tiểu khu Hoa Ban, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyên Mộc Châu. D đồng ý rồi điều khiển xe máy hiệu WAVE, BKS: 26G1- 256.07 ra điểm hẹn để gặp B. Đến nơi D găp B và Vũ Thành Đ, sinh năm: 2000, trú tai: Tiểu khu H, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La (đều là bạn của D). Đạt đưa cho D 400.000 đồng để D đi mua ma túy (Hồng phiến) về cùng nhau sử dụng. D đồng ý, Sau đó D gọi qua ứng dụng mạng xã hội Messenger cho một người tên là H, co nick Facebook là “Tam Mao”. D hỏi và xin được của H số điện thoại di động của một đối tượng bán ma túy tên là G. Sau đó D sử dụng số điện thoai di động 0362.329.973 gọi đến sô điện thoại di động 0977.968.020 của Giàng trao đổi và thống nhất với Giàng găp nhau tại khu vực sân bóng của bản Chiềng Đi 2, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ để mua bán ma túy. D điều khiển xe máy BKS: 26G1- 256.07 đi đến điểm hẹn thì Giàng gọi điện thoại di động cho D hẹn ra khu vực gần quán Lộc Rừng thuộc bàn Chiềng Đi 2, xã Vân Hồ để giao dịch mua bán ma túy. D điều khiển xe máy đi đến khu vực gần quán Lộc Rừng, thì gặp và mua được của Giàng 10 viên hồng phiến với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy D cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc, rồi đi về. D đi về đến khu vực thuộc địa phận bản Chiềng Đi 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ thì bị tổ công tác Công an huyện Vân Hồ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 05/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Nguyễn Việt D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Việt D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

*Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Việt D từ từ 21 đến 24 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2, Điều 106 BLTTHS tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0.2 gam Methamphetamine + vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong ban đầu + mảnh nilon màu xanh; 03 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Việt D, Vũ Thành Đ và Nguyễn Duy B.

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 Pro kèm 01 sim; 01 xe máy hiệu WAVE, BKS: 26G1- 256.07.

Về án phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy H và bà Phạm Thị Th đề nghị hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy là tài sản của gia đình.

Kiểm sát viên cho rằng chiếc xe máy là tài sản riêng của bị cáo, ông Nguyễn Duy Hùng và bà Phạm Thị Thủy không có căn cứ chứng minh chiếc xe máy hiệu WAVE, BKS: 26G1- 256.07, thu giữ của bị cáo là tài sản của ông H và bà Th. Bị cáo dùng xe làm phương tiện phạm tội, đề nghị HĐXX tịch thu sung quỹ Nhà Nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Ngày 13/7/2021 Nguyễn Việt D bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 01 gam Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Khối lượng của ma túy bị cáo tàng trữ đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm tội là nghiêm trọng, tàng trữ 01 gam Methamphetamine, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết năng nặng: Không có.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng của vụ án đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0.2 gam Methamphetamine + vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong ban đầu + mảnh nilon màu xanh; 03 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Việt D, Vũ Thành Đạt và Nguyễn Duy Bình là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần được tuyên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 Pro kèm 01 sim bị cáo dùng để liên lạc với người bán ma tuý cho bị cáo; đối với 01 xe máy hiệu WAVE, BKS: 26G1- 256.07 là tài sản của bị cáo, bị cáo đứng tên là chủ sở hữu chiếc xe máy trên, bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện việc phạm tội. Việc bà Phạm Thị Thủy (Là mẹ bị cáo) đề nghị hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy là tài sản của gia đình là không có căn cứ. Do vậy tịch thu sung quỹ Nhà Nước.

. Đối với Vũ Thành Đ và Nguyễn Duy B, D khai là các đối tượng đưa tiền cho D để mua ma túy về cùng sử dụng. Quá trình điều tra, cơ quan CSÐT Công an huyện Vân Hồ đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai và tiến hành đối chất, nhưng Đ và B đều khai không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của D. Ngoài lời khai duy nhất của D không có chứng cứ nào khác để chứng minh lời khai của D là đúng sự thật. Do vậy co quan CSÐT Công an huyện Vân Hồ không có căn cứ xử lý đôi với Đạt và Bình.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên là G, đã bán ma túy cho D cơ quan điều tra đã xác minh chủ thuê bao số 0977.968.020 là Lầu A L, sinh năm 1980 trú tại Bản B, xã V, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã triệu tập và lấy lời khai của Lầu A L, L khai không bán ma túy cho bất kỳ ai. Tiến hành cho D nhận dạng Lầu A Lớ, kết quả nhận dạng Lầu A L không phải là người bán ma túy cho D. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/7/2021.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0.2 gam Methamphetamine + vỏ gói niêm phong gửi giám định; 01 phong bì niêm phong ban đầu + mảnh nilon màu xanh; 03 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Nguyễn Việt D, Vũ Thành Đ và Nguyễn Duy B.

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco X3 Pro kèm 01 sim; 01 xe máy hiệu WAVE, BKS: 26G1- 256.07.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 25 ngày 17/01/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện;

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo; Người có QLNVLQ;

- Sở Tư pháp;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

Vũ Hồng nghiêm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Nghiêm Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện;

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo;

- Sở Tư pháp;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

Vũ Hồng nghiêm

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hồng Nghiêm

Cỡ chữ