- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-01-2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2022/HS-ST. Ngày: 30-5-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Linh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ái Hòa;
Ông Trần Văn Hùng.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Hảnh -Thư ký Toà án nhân dân thị
xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên
toà: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1993, tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp 5B, xã P C, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú hiện nay: Khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công Nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Lê Thị H; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 10-01-2022, tạm giam ngày 16-01-2022; bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn M, sinh năm: 1960 – Có mặt.
Địa chỉ: Ấp 5B, xã P C, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 15 phút ngày 10-01-2022, Công an phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang đối tượng Trần Văn T có hành vi tàng trữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín, có viền màu trắng, bên trong có chứa tinh thể rắn trong suốt (nghi là chất ma túy, ký hiệu M) trong bóp màu xanh – đen có chữ JingPin mà đối tượng T mang trên người tại trụ sở Công an phường A T thuộc khu phố A B, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ngoài ra, thu giữ thêm một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra, thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 09-01-2022, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, T điều khiển xe mô tô biển số: 63P1 – 386.11 đi từ nhà trọ “M G” thuộc khu phố S S, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đến khu vực xã T P T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông tên “Tr” khoảng 35 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch chất ma túy với số tiền 150.000 đồng, T cất giấu trong bóp màu xanh – đen có chữ JingPin rồi quay về nhà trọ. Đến khoảng 07 giờ ngày 10-01-2022 T cùng với Trần Minh T1 đến trụ sở Công an phường A T, thị xã Trảng Bàng để trình báo vụ việc T1 bị mất trộm tại nhà trọ. Do nghi vấn T sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường đã tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang T đang tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 80/KL-KTHS, ngày 13-01-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín có viền màu trắng (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,1311 gam, sau giám định còn lại 0,0784 gam.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSTrB, ngày 18 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Bị cáo không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Trần Văn M trình bày: Ông là cha ruột của bị cáo. Xe mô tô biển số 63P1-386.11 là của ông mua nhưng do bị cáo đi làm xa nên ông để cho bị cáo đứng tên và sử dụng. Trong quá trình điều tra, ông đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng để xin nhận lại xe và đảm bảo cho việc thi hành án của bị cáo. Nay ông đã được nhận lại xe và ông yêu cầu được nhận lại số tiền 5.000.000 đồng, ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lo cho cha mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện: Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 09-01-2022, T đến khu vực xã T P T, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp người đàn ông tên “Tr” khoảng 35 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ), mua 01 bịch chất ma tuý với số tiền 150.000 đồng cất giấu trong bóp mang trên người, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện.
Căn cứ vào Kết luận giám định số 80/KL-KTHS, ngày 13-01-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín có viền màu trắng (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,1311 gam, sau giám định còn lại 0,0784 gam.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ đã thu thập.
Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Cụ thể, bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe của bản thân và là nguyên nhân gây ra những tội phạm khác, nhưng vì muốn có ma tuý để sử dụng nhằm thoả mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố ý mua chất ma túy về cất giấu. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Công an thị xã Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Riêng người tên Tr đã bán ma túy cho bị cáo, hiện không rõ họ tên, địa chỉ nên chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định khối lượng còn lại 0,0784 gam chất ma tuý là chất Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 bóp đeo màu xanh-đen có chữ JingPin (đã qua sử dụng) không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu trắng-đen, số Imei 1: 352884790117528, số Imei 2: 353649450117525, 01 sim 1 số 0386238166 và 01 sim 2 số 0328504204 (đã qua sử dụng), đây là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu sơn đen-nâu, số máy JF86E5102373, số khung 5830KZ636723, dung tích xi lanh 108cm3, biển số 63P1-386.11 là của ông Trần Văn M mua nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng đã trả lại xe cho ông M, ông M không yêu cầu gì thêm.
Đối với số tiền 5.000.000 đồng do ông Trần Văn M nộp không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho ông M.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-01-2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định khối lượng còn lại 0,0784 gam chất ma tuý và 01 bóp đeo màu xanh-đen có chữ JingPin (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12, màu trắng-đen, số Imei 1: 352884790117528, số Imei 2: 353649450117525, 01 sim 1 số 0386238166 và 01 sim 2 số 0328504204 (đã qua sử dụng).
Ghi nhận ông Trần Văn M đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Vision, màu sơn đen-nâu, số máy JF86E5102373, số khung 5830KZ636723, dung tích xi lanh 108cm3, biển số 63P1-386.11. Ông M không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Trả lại cho ông Trần Văn M số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
3. Án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo và ông M biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Phòng KTNV.TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Bị cáo; người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Linh Ngọc |