- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:23/2022/HSST Ngày 30/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ DVIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hồng Duy.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Phác và ông Nguyễn Tiến Tịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:27/2022/TLST-HS, ngày 17/5/202, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: T, sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT và trú tại: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ, sinh năm 1972 và con bà N, sinh năm 1969; vợ là C, sinh năm 1995 và có 01 người con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 15/12/2021;bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, Dvụ liên quan:
1. Anh L– sinh năm 1997, có mặt.
Địa chỉ: T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
2. Anh D– sinh năm 1996, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
3. Anh H– sinh năm 2000, vắng mặt
Địa chỉ: TDP X, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
4. Anh K– sinh năm 2003, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Người làm chứng:
1. Anh Đ, sinh năm 1994, có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
2. Anh N, sinh năm 1999, xin vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
3. Anh D1– sinh năm 1972, xin vắng mặt.
Địa chỉ: TDP Z, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 14/12/2021, T được 01 đối tượng tên X (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 gói ma tuý để sử dụng, T bỏ trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Caraven rồi đưa đi cất giấu. Đến khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 15/12/2021, L gọi cho T qua ứng dụng Facebook Messenger xin ma tuý để sử dụng thì T đồng ý. T lấy gói ma tuý, đón taxi đi đến quán cà phê 1975, tại TDP 5, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thì gặp L, D, T, K. T lấy gói ma tuý ra để dưới sàn nhà, Ll ấy gói ma tuý đổ một ít vào bộ dụng cụ để sử dụng ma tuý (do Thanh chuẩn bị từ trước), dùng bật lửa đốt lên để chuẩn bị sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đắk Mil bắt quả tang cùng tang vật. Kết quả xét nghiệm nhanh xác định L, D, H dương tính với chất ma tuý. Tại Cơ quan Điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận giám định số 158/KLMT-PC09 ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Th thể màu trắng đựng trong 01 gói zipper chỉ cam niêm phong trong bì thư thứ nhất gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,4401 gam là Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là 0,3796 gam; thể màu trắng bên trong cóng thuỷ tinh được niêm phong trong bì thư thứ hai gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 0,1631 gam là Methamphetamine, hoàn lại sau giám định là 0,1182 gam.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT – VKS ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đắk Mil để xét xử bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội cũng như các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 12 đến 18 tháng tù giam.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ 0,4978 gam chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định. Tịch thu, tiêu huỷ 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Caraven, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 bật lửa màu xanh do không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đã qua sử dụng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple loại Ipad màu xám đã qua sử dụng là phương tiện bị can sử dụng vào việc phạm tội.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa những lỗi lầm sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan L: Anh T sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và xin hứa từ bỏ ma túy
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện hành vi đúng như diễn biến sự việc nêu trong Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.
Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 15/12/2021, tại Tổ dân phố 5, thị trấn Đăk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil bắt quả tang T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,6032 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) …. Methamphetamine…… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma túy, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Trong thời gian gần đây, nổi nên tình trạng tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy một cách nghiêm trọng, đây là một vấn nạn của xã hội chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, vì vậy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những ai đã và đang có ý định phạm tội, nhằm nhanh chóng loại bỏ loại tội phạm này ra khỏi xã hội.
Nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đứng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 0,4978 gam chất ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định, 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Caraven, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 bật lửa màu xanh không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đã qua sử dụng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple loại Ipad màu xám đã qua sử dụng là phương tiện bị can sử dụng vào việc phạm tội.
trong vụ án còn có vấn đề khác: Đối với H, D khai đã sử dụng ma tuý trước đó do L nhưng không thu giữ được ma tuý và không xác định được loại ma tuý nên không có căn cứ để xử lý L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Đối với Lâm Ngọc Thanh, Hcó hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Đối với D có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, Toà án nhân dân huyện Đắk Mil đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật. Đối với đối tượng tên X (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục xác minh, làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoảng 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 15/12/2021.
3. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu và tiêu huỷ 0,4978 gam chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Caraven, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, 01 bật lửa màu xanh.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ đã qua sử dụng, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple loại Ipad màu xám đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17/5/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Nông; -Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; -VKS ND huyện Đắk Mil; -Đội điều tra Công an huyện Đắk Mil; -Đội THAHS Công an huyện Đắk Mil; -Bộ phận Nghiệp vụ CA huyện Đắk Mil; -Chi cục THADS huyện Đắk Mil; -Bị cáo; -Những người tham gia tố tụng; -Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lại Hồng Duy |