- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Tân T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Tấn T (Lý Tấn T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2022/HS-ST Ngày 18 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
Thẩm phán:
Ông Trần Quang Khang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Hùng
Ông Huỳnh Mậu Thìn
Bà Liêu Bích Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lê Kim Đính - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: LÝ TẤN T (tên gọi khác: Lý Tấn T2), sinh năm 1992 tại Giá R, Bạc Liêu. Nơi cư trú: Khóm A, Phường B, thị xã Giá R, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Tấn H, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1964; vợ là Lý Ngọc N, sinh năm 1999; có 04 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2021 đến nay, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trịnh Thanh Nhân là Luật sư của Văn phòng Luật sư Trịnh Thanh Minh, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 03 giờ 00 phút ngày 08/4/2021, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu phối hợp với Công an thị trấn Châu H, huyện Vĩnh Lợi tiến hành bắt quả tang Lý Tấn T, sinh năm 1992; nơi cư trú khóm A, phường B, thị xã Gía R, tỉnh Bạc Liêu có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại Khách sạn Như B 2, thuộc ấp Tân T, thị trấn Châu H, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu. Qua kiểm tra trên người Lý Tấn T thu giữ các đồ vật, tài liệu sau: 01 gói nylon màu trắng trong có quấn băng keo màu vàng xung quanh, kiểm tra bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng đục dạng rắn nghi là ma túy đá (chưa kiểm tra trọng lượng) được để trong túi màu đen hiệu Adidas, T đeo ngang lưng trước bụng; 01 gói nylon màu trắng trong, bên trong có chứa 03 viên màu cam dạng rắn nghi là ma túy đá, dạng nén; 01 gói nylon màu trắng trong, bên trong có chứa 04 viên màu xanh xám dạng nén, trên các viên có chữ “R” nghi là ma túy; 01 ống thủy tinh có hình dạng cong, là dụng cụ sử dụng chất ma túy. Tất cả được để trong túi áo khoác Jean màu xanh, túi phía trước bên trái của T đang mặc, cùng một số đồ vật, tài sản khác có liên quan.
Quá trình điều tra, Lý Tấn T khai nhận số ma tuý bị lực lượng Công an bắt thu giữ nêu trên là do T mua nhằm mục đích bán lại cho người khác, cụ thể như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 06/4/2021, T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 59V2-636.68 đi từ Bạc Liêu đến thành phố Hồ Chí Minh để mua ma tuý về bán, khi đi T có chở bạn gái tên Nguyễn Thúy H (chưa rõ nhân thân) đi cùng (H đi thành phố Hồ Chí Minh để làm thẩm mỹ mũi), khi đi đến tỉnh Vĩnh Long cả hai nghỉ qua đêm tại đây, đến sáng ngày 07/4/2021, T tiếp tục chở Hồng đi lên thành phố Hồ Chí Minh. Lúc đến, T chở H đến nhà người thân tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh để nghỉ, xong T sử dụng số điện thoại 0877727602 gọi cho người phụ N tên “N” (chưa rõ nhân thân) qua số điện thoại 0908707092 để hỏi mua ma túy đá, T dự định mua 500 gam ma túy đá và mang theo 110.000.000đ, T hỏi Nhi 500 gam ma túy đá giá bao nhiêu, N nói để hỏi lại H (tức Đặng Chí H), thấy mất thời gian nên T sử dụng số điện thoại 0877727602 gọi cho Hùng qua số điện thoại 0938974148 để hỏi giá, H cho biết 500 gam ma túy đá giá 140.000.000đ, còn 01 kg ma túy đá giá 270.000.000đ, T và H thỏa thuận mua bán 500 gam ma túy đá với giá 140.000.000đ. Sau đó, N nhắn tin cho T địa chỉ nhận ma túy, do không đủ tiền nên T mượn của một số bạn bè thêm 30.000.000đ (không nhớ mượn của ai) rồi đi đến địa chỉ N nhắn tin. Khi đến T gặp N, H và người đàn ông tên “T” (chưa rõ nhân thân), một lúc sau T đi và người đàn ông tên “P” (chưa rõ nhân thân) đến giao cho H 02 gói ma túy đá, H đưa cho T 01 gói và nói bên trong là 500 gam ma túy đá, gói còn lại H chia thành 05 gói nhỏ, T trả tiền và nói do thiếu tiền nên mượn bạn bè thêm, thấy vậy nên H bán cho T 500 gam ma túy đá với giá 130.000.000đ. Nhận ma túy xong T điều khiển xe chạy về Bạc Liêu, đến khoảng 03 giờ 00 ngày 08/4/2021, khi T vào khách sạn Như B 2 thuộc ấp Tân Tạo, thị trấn Châu H, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu để thuê phòng nghỉ thì bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma tuý trên cùng một số đồ vật khác.
Ngoài lần mua ma túy của Đặng Chí H vào ngày 07/4/2021 nêu trên, T còn khai nhận mua ma túy của H 02 lần khác, cụ thể: lần thứ nhất vào ngày 19/02/2021, T đến thành phố Hồ Chí Minh gặp Hùng mua khoảng 16-17 gam ma túy đá với giá 6.000.000đ; lần thứ hai vào ngày 27/02/2021, T đến TP. Hồ Chí Minh gặp H mua khoảng 150 gam ma túy đá với giá 58.000.000đ, cả hai lần T đều sử dụng tài khoản số 070116107706 của T mở tại Ngân hàng Sacombank chuyển tiền vào tài khoản số 060253570744 của H mở tại Ngân hàng Sacombank thông qua dịch vụ InternetBanking để thanh toán tiền mua ma túy cho H; mua của Đinh Thanh T khoảng 03-04 lần, tổng cộng khoảng 400 gam và vào ngày 07/4/2021, tại TP. Hồ Chí Minh, T được Trong đưa cho 04 viên nén màu xanh xám (trên mỗi viên có chữ “R”) cùng 03 viên nén màu cam để mang về Bạc Liêu bán thử.
Ngoài ra, vào ngày 09/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Lý Tấn T tại khóm A, phường B, thị xã Giá R, tỉnh Bạc Liêu, qua khám xét thu giữ: 03 túi nhựa, mỗi túi bên trong có chứa 01 viên nén màu trắng có chứa nhiều chấm (đốm) màu xanh dạng hình khối vuông nghi là ma túy; 01 túi nhựa, bên trong chứa bột màu đỏ, chưa xác định khối lượng nghi là ma túy; 18 túi nhựa nylon đã qua sử dụng, có kích thước khác nhau, bên trong có các hạt tinh thể nhỏ màu trắng đục nghi là ma túy; 01 gói nylon bên trong có nhiều túi nylon có nhiều kích thước khác nhau, các túi nylon này chưa qua sử dụng; 01 hộp giấy màu đen bên trong chứa 12 túi nylon màu trắng trong, trong từng túi nylon có chứa nhiều hạt tinh thể nhỏ màu trắng nghi là ma túy, cùng một số đồ vật, tài liệu khác có liên quan. T xác định ma tuý chứa trong các gói nylon mà Cơ quan điều tra khám xét thu giữ nêu trên là do T mua của H vào ngày 19/02/2021, ngày 27/02/2021 và mua của Đinh Thanh T về phân ra để bán lại cho người khác, sau khi lấy ma tuý ra bán thì còn sót dính lại trong các bịch nylon, tuy nhiên T không xác định được là ma tuý mua của H hay T.
- Tại Kết luận giám định số: 48/KLGĐ-PC09, ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, kết luận:
+ Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong gói nylon (kí hiệu M1) là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 498,4073 gam.
+ Không tìm thấy chất ma túy, tiền chất ma túy bên trong 02 gói nylon (kí hiệu M2, M3).
Kèm theo kết luận giám định: Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định (kí hiệu M1, M2, M3) Và các vỏ phong bì, bao gói (tất cả được chứa trong phong bì niêm phong số 48/GĐ-2021).
- Tại Kết luận giám định số: 73/KLGĐ-PC09, ngày 28/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, kết luận:
+ Không tìm thấy chất ma túy bên trong 03 (ba) gói nylon (kí hiệu M1);
+ Chất bột màu trắng dạng tinh thể bên trong 12 gói nylon màu trắng (kí hiệu M2) là chất ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,19370 gam.
+ Chất bột màu trắng dạng tinh thể bên trong 18 gói nylon (kí hiệu M3) là chất ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,10537 gam.
+ Chất bột màu đỏ bên trong gói nylon (kí hiệu M4) là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,05106 gam.
Kèm theo kết luận giám định: Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định. Hoàn lại đối tượng sau giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định (kí hiệu M1, M3, M4) Và các vỏ phong bì, bao gói (được chứa trong 04 phong bì niêm phong số 73/GĐ-2021 và đánh số 1, 2, 3, 4).
Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS-P1, ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, truy tố để xét xử bị cáo Lý Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Tấn T (Lý Tấn T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Tấn T mức án 20 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “Mẫu vật (kí hiệu M1) còn lại sau giám định có khối lượng 497,0182 gam theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự; các vỏ phong bì, bao gói sau khi giám định theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự”. Trên gói niêm phong có chữ ký của ông Đặng Minh K
- Điều tra viên, ông Trịnh Thanh N - Người bào chữa, bà Tô Thị U - Người chứng kiến và có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “Mẫu vật (kí hiệu M2) còn lại sau giám định có khối lượng 1,40138 gam theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự; Mẫu vật (kí hiệu M3) còn lại sau giám định có khối lượng 0,90493 gam theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự”. Trên gói niêm phong có chữ ký của ông Đặng Minh K - Điều tra viên, ông Trịnh Thanh N - Người bào chữa, bà Tô Thị U - Người chứng kiến và có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 1, trên gói niêm phong có chữ kí của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 2, trên gói niêm phong có chữ kí của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 3, trên gói niêm phong có chữ kí của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 4, trên gói niêm phong có chữ kí của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói nylon bên trong có nhiều túi nylon có nhiều kích thước khác nhau, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) ống thủy tinh có hình dạng cong là dụng cụ sử dụng chất ma túy.
- 01 (một) túi đeo màu đen hiệu adidas.
- 01 (một) áo khoác Jeans màu xanh dài tay, bên trong cổ áo có chữ “LEVI STRAUSS & CO”.
- 01 sim mạng Vietnammobile số 8984050918 1146866915.
- 01 sim mạng Itelecom số 898408100 08717647255.
- 01 (một) sim mạng Vinaphone có số seri: 89840 20001 09029 39891.
- 01 (một) sim mạng Vinaphone có số seri: 89840 20001 12066 77922.
- 01 (một) giấy báo số pin của Ngân hàng Dong A Bank tên khách hàng Lý Ngọc N; tài khoản số 0110838404.
- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân phôtô tên Lý Ngọc N mang số 385732694.
- 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng Sacombank tên LY TAN T, số tài khoản 0701 1610 7706.
Trả cho bị cáo:
- 01 (một) hộ chiếu số B3775764 mang tên Lý Tấn T, sinh ngày 06/02/1992.
- 01 (một) sổ hộ khẩu số 030099760, chủ hộ Lý Tấn T, nơi thường trú: ấp 2, thị trấn Giá R, huyện Giá R, tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen tím F11 Pro, màn hình cảm ứng có số IMEI1: 8641 8204 0901 952; số IMEI2: 8641 8204 0901 945, điện thoại không gắn sim.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO (ốp lưng màu đen), màn hình cảm ứng bị nứt có số IMEI1: 8625 60047 629373; số IMEI2: 8625 60047 629365.
- Số tiền 38.997.111đ.
Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, tự thú, tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định tại các điểm s, r, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án tù có thời hạn để bị cáo sớm được hòa nhập cộng đồng. Về phần xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, nên hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời trình bày của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ, ngày 08/4/2021, tại khách sạn Như B 2 thuộc ấp Tân T, thị trấn Châu H, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lý Tấn T bị Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên người, qua giám định là loại Methamphetamine có khối lượng 498,4073 gam nhằm mục đích bán cho người khác để hưởng lợi. Đồng thời khi khám xét chỗ ở của bị cáo T, Cơ quan điều tra thu giữ các gói nylon có chứa chất ma tuý, qua giám định là loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,35013 gam là có xảy ra trên thực tế.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo còn khai nhận ngoài lần bị bắt quả tang ngày 08/4/2021, bị cáo còn nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cụ thể: Ngày 19/02/2021, bị cáo T đến thành phố Hồ Chí Minh gặp Hùng mua 16 gam ma túy đá và ngày 27/02/2021, bị cáo T đến thành phố Hồ Chí Minh gặp H mua 150 gam ma túy đá. Xét lời trình bày của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T đều thừa nhận ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang thì bị cáo còn 02 lần mua ma túy của người tên H với khối lượng là 16 gam và 150 gam tuy nhiên chưa có căn cứ xác định 166 gam mà bị cáo mua có phải là ma tuý không, loại ma tuý nào và tại biên bản ghi lời khai ngày 10/3/2022 Đặng Chí H xác định không quen biết Lý Tấn T và cũng không có bán ma tuý cho bị cáo T. Theo quy định tại khoản 2 Điều 98 Bộ luật tố tụng hình sự thì không thể xem lời khai của bị cáo là chứng cứ duy nhất để buộc tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận Cáo trạng truy tố bị cáo Lý Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng 166 gam ma túy đá, loại Methamphetamine.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, chỉ chấp nhận một phần Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, truy tố bị cáo Lý Tấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với khối lượng qua giám định là 498,75743 gam ma túy loại Methamphetamine theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm, bị cáo dù biết rất rõ ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành nhưng vì lười lao động, muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu vật chất của bản thân nên vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây mất an ninh tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay tình trạng ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, gây nguy hại đến sức khỏe, đời sống của con người, tác động trực tiếp đến hệ thần kinh, gây ảo giác, hoang tưởng cho người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tịch thu số tiền 10.000.000đ và các vật chứng khác. Trả cho bị cáo số tiền 28.997.111đ do đây không phải là tiền do phạm tội mà có.
Về án phí: Bị cáo Lý Tấn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Như đã phân tích nêu trên, chỉ có căn cứ xác định bị cáo phạm tội một lần vào ngày 08/4/2021 với tổng khối lượng ma túy qua giám định là 498,75743 gam, nên không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về khối lượng ma túy truy tố đối với bị cáo là 166 gam, cũng như về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự thú” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, về tịch thu sung quỹ số tiền 28.997.111đ. Các phần khác về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ chấp nhận. Chấp nhận đề nghị của người bào chữa đề nghị mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
Đối với Đặng Chí H: Qua làm việc H không thừa nhận có bán ma túy cho bị cáo T nên ngày 01/4/2022, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 04/QĐ-CSĐT-CSHS để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi của Đinh Thanh T: Qua làm việc Trong không thừa nhận có bán ma túy cho bị cáo T, ngoài lời khai của bị cáo T ra thì không có chứng cứ nào khác để chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lý Tấn T (Lý Tấn T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Tấn T (Lý Tấn T) 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 08/4/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “Mẫu vật (kí hiệu M1) còn lại sau giám định có khối lượng 497,0182 gam theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự; các vỏ phong bì, bao gói sau khi giám định theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự”. Trên gói niêm phong có chữ ký của ông Đặng Minh K
- Điều tra viên, ông Trịnh Thanh N - Người bào chữa, bà Tô Thị U - Người chứng kiến và có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi: “Mẫu vật (kí hiệu M2) còn lại sau giám định có khối lượng 1,40138 gam theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự; Mẫu vật (kí hiệu M3) còn lại sau giám định có khối lượng 0,90493 gam theo Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự”. Trên gói niêm phong có chữ ký của ông Đặng Minh K - Điều tra viên, ông Trịnh Thanh N - Người bào chữa, bà Tô Thị U - Người chứng kiến và có đóng dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 1, trên gói niêm phong có chữ ký của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 2, trên gói niêm phong có chữ ký của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 3, trên gói niêm phong có chữ ký của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có ghi “73/GĐ-2021” được đánh số 4, trên gói niêm phong có chữ ký của ông Nguyễn Anh D và đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) gói nylon bên trong có nhiều túi nylon có nhiều kích thước khác nhau, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) ống thủy tinh có hình dạng cong là dụng cụ sử dụng chất ma túy.
- 01 (một) túi đeo màu đen hiệu adidas.
- 01 (một) áo khoác Jeans màu xanh dài tay, bên trong cổ áo có chữ “LEVI STRAUSS & CO”.
- 01 sim mạng Vietnammobile số 8984050918 1146866915.
- 01 sim mạng Itelecom số 898408100 08717647255.
- 01 (một) sim mạng Vinaphone có số seri: 89840 20001 09029 39891.
- 01 (một) sim mạng Vinaphone có số seri: 89840 20001 12066 77922.
- 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng Sacombank tên LY TAN T, số tài khoản 0701 1610 7706.
- 01 (một) giấy báo số pin của Ngân hàng Dong A Bank tên khách hàng Lý Ngọc N; tài khoản số 0110838404.
- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân phôtô tên Lý Ngọc N mang số 385732694.
Trả cho bị cáo :
- 01 (một) hộ chiếu số B3775764 mang tên Lý Tấn T, sinh ngày 06/02/1992.
- 01 (một) sổ hộ khẩu số 030099760, chủ hộ Lý Tấn T, nơi thường trú: ấp 2, thị trấn Giá Rai, huyện Giá R, tỉnh Bạc Liêu.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen tím F11 Pro, màn hình cảm ứng có số IMEI1: 8641 8204 0901 952; số IMEI2: 8641 8204 0901 945, điện thoại không gắn sim.
- Số tiền 28.997.111đ.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước :
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO (ốp lưng màu đen), màn hình cảm ứng bị nứt có số IMEI1: 8625 60047 629373; số IMEI2: 8625 60047 629365.
- Số tiền 10.000.000đ.
(Hiện các vật chứng đang được Cục thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/6/2022 và biên lai thu tiền số 0000115 ngày 02/6/2022).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị Lý Tấn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh (01b); - VKSND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh (01b); - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02b); - CQĐT Công an tỉnh Bạc Liêu (01b); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Bạc Liêu (01b); - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu (01b); - Sở Tư Pháp (01b); - Bị cáo (01b); - Luật sư (01b); - Lưu: HSVA, THCTP; | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tăng Trần Quỳnh Phương |