vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội: “Đánh bạc”

2/ Về căn cứ điều khoản và hình phạt: Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND nơi bị cáo cư trú nhận được bản án và Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho UBND phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Tuấn D phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội: “Đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ, TP.ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2022/HS-ST
Ngày 29-4- 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đức Hiếu

2. Ông Nguyễn Văn Trình

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hòa, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Tuấn D, Sinh ngày: 05 tháng 6 năm 1987 tại Quảng Nam. Nơi cư trú: Số nhà 101 đường M, tổ 73, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần B, sinh năm: 1964 và bà Hồ Thị Th, sinh năm: 1962. Gia đình có 04 người con, bị cáo là con đầu; có vợ Phạm Thị Ánh Ng, sinh năm: 1994 và có 02 con chung, lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 980/QĐ-XPVPHC ngày 26/3/2021 của UBND quận Cẩm Lệ xử phạt số tiền 7.500.000đồng về hành vi “Dùng nhà, chỗ ở của mình để chứa bạc”; Bị cáo hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Phạm Văn T, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

+ Lê Văn H, sinh năm 1987;

Địa chỉ: phố 4, Th , Thanh Hoá. Vắng mặt

+ Lâm Quang B, sinh năm 1982;

Địa chỉ: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

+ Lê Thị Thu Tr, sinh năm: 1985;

HKTT: tổ 73, phường H, quận C, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt

ơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 12 tháng 12 năm 2021, các đối tượng Phạm Văn T, sinh năm 1993, trú tại: thị trấn Á, Đ Quảng Nam; Lê Văn H, sinh năm 1987, trú tại: phố 4, Th , Thanh Hoá; Lâm Quang B, sinh năm 1982, trú tại: Đ, Đ, Quảng Nam đến tiệm sửa xe của bị cáo Trần Tuấn D (là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép) tại số nhà 101 đường Mẹ Thứ, thuộc tổ 73 phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ để sửa xe máy. Sau đó, cả bốn người rủ nhau tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm.

Cách thức đánh bạc: Các đối tượng sử dụng 01 bàn nhựa, 04 ghế nhựa làm chiếu bạc. Người chia bài sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho 04 người, người đánh trước thì được 10 lá bài, mỗi người còn lại được 09 lá bài, số bài dư được úp trên bàn. Chia bài xong, ai không có lá bài “K” nào thì phải chung cho người có dư 01 lá bài “K” 40.000đồng. Tiếp đó, người chơi trước đánh 01 lá bài xuống, người chơi sau có quyền bốc lá bài người đánh trước để tạo với số bài mình đang có 01 tổ hợp trên 03 cây bài đồng chất hoặc giống nhau (gọi là phỏm). Nếu người chơi không bốc được lá bài đánh liền trước thì phải bốc 01 lá bài từ bài đang úp đồng thời chọn 01 lá bài đánh xuống. Cứ như vậy, người chơi tiếp nối nhau theo chiều phải qua trái cho đến khi bốc hết số bài đang úp hoặc có người “ù”.

Nếu người đánh sau thắng được người liền trước lá bài thứ nhất thì được số tiền 10.000đồng, nếu thắng lá bài thứ hai thì được 20.000đồng. Nếu ai có bài “ù thường” thì thắng mỗi nhà còn lại số tiền 60.000đồng. Trường hợp người có bài “ù thường” thắng được cả ba lá bài của người đánh liền trước thì người này phải chung tiền thua thay cho 02 người kia. Nếu có bài “ù tròn” thì thắng mỗi nhà số tiền 120.000đồng, nếu người đánh liền trước người có bài “ù tròn” bị thua cả 03 là bài đánh xuống thì phải chung tiền thua thay cho 02 người còn lại. Trường hợp người nào “ù tròn” có phỏm 04 cây “K”, thì người đánh trước cứ bị thua 01 cây “K” thì chịu phạt 120.000đồng.

Nếu không có bài “ù” thì mọi người mở bài, nếu ai có số điểm thấp nhất thì thắng những nhà còn lại số tiền lần lượt là 10.000đồng, 20.000đồng và 30.000đồng. Nếu bài của ai không có “phỏm” thì thua 40.000đồng

Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị công an phường Hòa Xuân bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài tây 52 lá, 01 bàn nhựa màu xanh và 04 ghế nhựa màu đỏ, thu giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng tổng số tiền 6.230.000đồng.

Quá trình điều tra xác định được số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.660.000đồng, trong đó, của D là 60.000đồng, B là 200.000đồng, T là 1.700.000đồng, H là 700.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSCL ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Tuấn D về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321 các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật TTHS đề nghị HĐXX tuyên:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.660.000đồng dùng vào việc đánh bạc (trong đó, của D là 60.000đồng, B là 200.000đồng, T là 1.700.000đồng, H là 700.000đồng)

Đối với số tiền 2.800.000đồng thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của Lê Văn H, số tiền 770.000đồng trong ví tiền tại túi quần sau bên phải của Lâm Quang B, không dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả tài sản lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

Tịch thu tiêu hủy đối với 02 bộ bài tây 52 lá, 01 bàn nhựa và 04 ghế nhựa dùng vào việc đánh bạc, xét thấy không còn giá trị sử dụng.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 12 tháng 12 năm 2021, tại nhà số 101 đường Mẹ Thứ, thuộc tổ 73 phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, bị cáo Trần Tuấn D là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bài “phỏm” cùng các đối tượng khác với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.660.000đồng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Tuấn D phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã thành khẩn khai báo cụ thể từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nhận thấy tội lỗi của mình và thể hiện thái độ mong muốn sửa chữa lỗi lầm, mong muốn quyết tâm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và cho xã hội, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, nuôi 02 con nhỏ, vợ bị cáo không có việc làm. Do đó HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội của bị cáo hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng có tác dụng giáo dục.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015: Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. HĐXX xét thấy: Bị cáo làm nghề sửa xe, thu nhập không ổn định, trong thời gian 02 năm gần đây bị cáo thất nghiệp do dịch bệnh covid 19, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện tại rất khó khăn nên HĐXX miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Đối với hành vi đánh bạc của Phạm Văn T, Lê Văn H và Lâm Quang B do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên UBND quận Cẩm Lệ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở nên HĐXX không đề cập xử lý.

Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá, 01 bàn nhựa và 04 ghế nhựa dùng vào việc đánh bạc, xét thấy không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.660.000đồng dùng vào việc đánh bạc (Trong đó của D là 60.000đồng, B là 200.000đồng, T là 1.700.000đồng, H là 700.000đồng )

- Đối với số tiền 2.800.000đồng thu giữ tại túi quần phía sau bên phải của Lê Văn H, số tiền 770.000đồng trong ví tiền tại túi quần sau bên phải của Lâm Quang B, không dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả tài sản lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ nên HĐXX không đề cập xử lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Tuấn D phạm tội: “Đánh bạc”

2/ Về căn cứ điều khoản và hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND nơi bị cáo cư trú nhận được bản án và Quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho UBND phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng), 01(một) bàn nhựa màu xanh (diện 60 x 40 x 50) cm và 04 (bốn) ghế nhựa màu đỏ (diện 40 x 50 x 70) dùng vào việc đánh bạc, xét thấy không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 2.660.000đồng (Hai triệu sáu trăm sáu mươi ngàn đồng) dùng vào việc đánh bạc (Trong đó của D là 60.000đồng, B là 200.000đồng, T là 1.700.000đồng, H là 700.000đồng )

(Tất cả những vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa công an quận quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; Giấy nộp tiền vào tài khoản số 45 ngày 08 tháng 4 năm 2022 tại Kho bạc Nhà nước Cẩm Lệ)

4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn trên kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ