vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Giàng A L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/7/2022. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS-ST.
Ngày: 23 - 11 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Hội thẩm nhân dân

Bà Trịnh Thị Kim Oanh

Ông Mùi Văn Huấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST- ST ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo.

Giàng A L, tên gọi khác: Không, sinh năm 1970, tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông: Giàng A Ch và bà Sồng Y G (Đều đã chết); bị cáo có vợ L Hờ Y D, sinh năm 1971 và 05 con; con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1996. Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 07 tháng 7 năm 2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện V cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A L: Ông Đàm Mạnh H - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng A L, sinh năm 1996; trú tại: Xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 06/7/2022, Giàng A L một mình điều khiển xe máy không có biển kiểm soát đi từ nhà tại xóm P, xã H, huyện M, tỉnh Hoà Bình đến bản T, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đến bản T, xã L, L đã gặp một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi, L không biết tên và địa chỉ. L đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh giấy bạc với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, L đi vào bụi cây ven đường lấy một ít Heroine ra sử dụng. Số Heroine còn lại, L gói lại như ban đầu, rồi cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc trên người. Sau đó L điều khiển xe đi về. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, L đi về đến đường liên xã thuộc địa phận bản T, xã L, huyện V thì bị tổ công tác Công an xã L, huyện V kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người L: 01 gói giấy bạc, tiếp đến L lớp nilon màu đen bên trong đựng chất bột màu nâu nghi L Heroine. L khai nhận là Heroine của L, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Giàng A L, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng nghi là ma túy. Tạm giữ của Giàng A L: Số tiền 100.000 đồng và 01 chiếc chiếc xe máy, nhãn hiệu Yamaha, loại LEXAM, số khung RLCL15C20-9Y003466, số máy 15C2-003455, xe không có biển kiểm soát. Đồng thời tổ công tác đã dẫn giải và bàn giao Giàng A L cùng vật chứng liên quan cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số chất bột màu nâu nghi là Heroine thu giữ của Giàng A L có khối lượng 0,38 gam; lấy toàn bộ 0,38 gam làm mẫu giám định ký hiệu L. Mẫu giám định ký hiệu L được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.

Kết luận giám định số: 1210 ngày 08/7/2022 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L là ma túy; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,38 gam; Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ được là 0,38 gam; loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Không”.

Cáo trạng số: 116/CT-VKS ngày 14/10/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng A L về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng; Qua phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A L mức án từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21(Hai mươi mốt) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung L phạt tiền đối với bị cáo Giàng A L.

Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma tuý đối với Giàng A L.

- Trả lại Giàng A L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Lexam xe không có biển kiểm soát số khung RLCL15C20 – 9Y003466, số máy 15C2-003455 đã qua sử dụng

Trả lại bị cáo số tiền 100.000 đồng tiền NHNN Việt Nam.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Giàng A L: Viện kiểm sát truy tố bị cáo Giàng A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự L đúng người đúng tội, đúng pháp luật không oan. Tuy nhiên, sau khi bị bắt bị cáo Giàng A L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Giàng A L mức thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của Viện Kiểm sát, không phạt bổ sung, miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến bào chữa của người bào chữa không có tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố Giàng A L về tội tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Giàng A L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị giam giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai của người chứng kiến, biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can thể hiện: Ngày 06/7/2022, bị cáo Giàng A L đã có hành vi tàng trữ 0,38 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A L phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải L tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

- Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, Lm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

- Xét ý kiến bào chữa của Luật sư trợ giúp pháp lý cho bị cáo: Luật sư đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất trong khung hình phạt mà kiểm sát viên đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ so với mức hình phạt đề nghị là tương sứng, phù hợp; bị cáo không có tài sản, là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến bào chữa của Luật sư trợ giúp pháp lý.

Bị cáo Giàng A L đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Giàng A L có thể bị chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về nguồn gốc số ma tuý: Giàng A L khai mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi, L không biết tên và địa chỉ. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma tuý đối với Giàng A L là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Lexam xe không có biển kiểm soát số khung RLCL15C20 – 9Y003466, số máy 15C2-003455 đã qua sử dụng là tài sản của Giàng A L việc Giàng A L sử xe đi mua ma túy L không biết và không liên quan nên tuyên trả lại Giàng A L chiếc xe máy trên.

- Đối với số tiền 100.000 đồng tiền NHNN Việt Nam là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội tuyên trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Giàng A L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/7/2022.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma tuý đối với Giàng A L.

- Trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Giàng A L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Lexam xe không có biển kiểm soát số khung RLCL15C20 – 9Y003466, số máy 15C2-003455 đã qua sử dụng.

- Trả lại bị cáo số tiền 100.000 đồng tiền NHNN Việt Nam.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 17/BBVC-CCTHA ngày 21/10/2022.

4. Về án phí: Áp dung điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Giàng A L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Giàng A L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ