- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Th - Phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2022/HS-ST Ngày 08 - 9 -2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngải Chí Phồng, Ông Lò Văn Vớn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm hình thức trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2022/TLST- HS ngày 19/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST - HS ngày 26/8/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Th - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992 tại huyện C, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản H, xã B, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T – Sinh năm 1962 và bà Mào Thị O – Sinh năm 1965; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị cơ quan nào xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử; Tạm giữ từ ngày 03/6/2022 đến ngày 09/6/2022, tạm giam từ ngày 09/6/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Trần Ngọc Thiện – Kiểm tra viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 03/6/2022 bị cáo Lò Văn Th đi bộ từ nhà bản H, xã B lên tổ dân phố Q, thị trấn T tìm mua ma túy sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái không biết tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua được 03 gói ma túy (gồm: 02 gói Heroine mỗi gói được gói ngoài bằng mảnh giấy nilon màu hồng, 01 gói Methamphetamine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh) với giá 100.000đồng. Sau khi mua được ma tuý, bị cáo cất giấu 02 gói Heroine vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long , 01 gói Methamphetamine cất giấu vào trong chiếc ví giả da màu nâu, rồi cho vỏ bao thuốc lá và chiếc ví cất giấu vào túi áo bên trong bên trái áo khoác đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến 08 giờ 50 phút cùng ngày khi đi đến đoạn đường gần cây xăng thuộc Bản S, thị trấn T, huyện C bị tổ công tác Công an huyện C bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm:
+ 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilon màu hồng bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn.
+ 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có 01 viên nén màu hồng một mặt có chữ WY.
+ 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
+ 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.
Ngày 03/6/2022, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo: Mẫu chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,1585 gam, lấy 0,0386 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 0,1199 gam; viên nén màu hồng có khối lượng 0,1094 gam, lấy 0,0515 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 0,0579 gam.
Kết luận giám định số 783/KL - PC09 ngày 14/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ gửi giám định là ma túy: Loại Heroine – có khối lượng 0,1585 gam; Mẫu viên nén màu hồng thu giữ gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine – có khối lượng 0,1094 gam. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Cáo trạng số 14/CT - VKSHTC ngày 18 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại loại Heroine, Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc ví giả da màu nâu; Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 03/6/2022 bị cáo đã mua được của một người phụ nữ không quen biết 03 gói nhỏ chứa chất ma túy loại Heroine và Methamphetamine trị giá 100.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C, mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu trong túi áo bên trái đang mặc và trên đường về bị Công an huyện phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,1585 gam Heroine và 0,1094 gam Methamphetamine để cất giấu. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,2679 gam, tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo" theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người nghiện chất ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục, đồng thời có cơ hội cho bị cáo cai nghiện chất ma túy. [3] Về hình phạt bổ sung: Qua tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như biên bản xác minh về điều kiện, hoàn cảnh thấy rằng gia đình thuộc hộ nghèo, sống cùng gia đình, tài sản riêng không có. Tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. [4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,1199 gam Heroine; 0,0579 gam Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 chiếc ví giả da màu nâu; 03 mảnh giấy nilon; 01 vỏ bao niêm phong cũ là vật cấm tàng trữ và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. [6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo theo giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 34/GCN – HN.HCN ngày 01/01/2022 của UBND xã Mường Báng, huyện Tủa Chùa nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: 1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Th phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/6/2022. 3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1199 gam Heroine và 0,0579 gam Methamphetamine; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 chiếc ví giả da màu nâu; 03 mảnh giấy nilon; 01 vỏ bao niêm phong cũ.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/9/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tủa Chùa; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện C; - Cơ quan CSĐT CA huyện C; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện C; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, HSTHA. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Tòng Thị Lan |