vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 22/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh H, Đỗ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

1. Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 08 (tám) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/4/2022. 2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ đƣợc tính từ ngày UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H và đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh H, Đỗ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày 22-4-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Phan và ông Nguyễn Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Lê Mạnh Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/HSST ngày 01-4-2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lê Thanh H, sinh năm 1988; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã Đ, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng; trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Viết H (đã chết) và bà Đỗ Thị N; Có chồng là Đỗ Trƣờng S và 04 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

2. Đỗ Văn K, sinh năm 1990; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn K và bà Ngô Thị C; gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Do có quan hệ họ hàng quen biết nhau nên Đỗ Văn K biết Lê Thanh H có đánh bạc trái phép với hình thức bán số lô, số đề. Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 08 phút đến 18 giờ 09 phút ngày 23/12/2021, tại nhà ở của K ở thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng, K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0332.346.... đăng nhập tên tài khoản “VK” trên mạng xã hội Zalo nhắn tin đến điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, loại A7 lắp sim 0869940... đăng nhập tên tài khoản “ECCM” trên mạng xã hội Zalo của H để mua số lô, số đề, cụ thể:

Hồi 17 giờ 08 phút ngày 23/12/2021, K nhắn cho H nội dung “Đề 50, 52 = 50k một con” (tức số đề 50, 52 mỗi số là 50.000 đồng). Hồi 17 giờ 15 phút K nhắn cho H “Đề 00,88 = 50k một con” (tức đề 00,88 mỗi số là 50.000 đồng). Hồi 17 giờ 41 phút K nhắn tin cho H “Đề 77 = 50k”, “X2 63, 90 = 500k”, “X2 10, 93 = 500k” (tức đề 77 là 50.000 đồng; lô xiên hai 63,90 và 10,93 mỗi số là 500.000 đồng). Hồi 17 giờ 42 phút K nhắn cho H “Lô 38 = 2 triệu” (tức lô 38 là 2.000.000 đồng). Hồi 18 giờ 03 phút, K nhắn cho H “Lô 59, 86 = 2 triệu một con” (tức lô 59,86 mỗi số 2.000.000 đồng). Hồi 18 giờ 09 phút, K nhắn cho H “Đề 55 = 50” (tức đề 55 là 50.000 đồng). Tổng số tiền K mua số lô, số đề của H là 7.300.000đ (Bảy triệu ba trăm nghìn đồng). Sau khi nhận đƣợc các tin nhắn của K, H thả tim và nhắn tin ok, tức là đồng ý bán số lô, số đề cho K.

Về hình thức đánh bạc bằng việc bán số lô, số đề đƣợc thoả thuận, nhƣ sau: Số đề là 02 số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả xổ số Miền Bắc mở thƣởng vào hồi 18 giờ 15 phút hàng ngày. Số đề là 02 số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, ngƣời chơi chọn mua 02 số tự nhiên tùy theo ý ngƣời chơi, nếu khi mở thƣởng mà 02 số cuối cùng của giải đặc biệt trùng với 02 số tự nhiên mà ngƣời chơi đã mua, thì ngƣời chơi thắng và đƣợc gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề, nếu không trúng thì ngƣời chơi bị mất số tiền đã bỏ ra mua số đề.

Số lô là 02 số tự nhiên cuối cùng của 27 giải kết quả xổ số Miền Bắc, nếu khi mở thƣởng trong số 27 giải thƣởng của kết quả xổ số Miền Bắc mà có 02 số cuối cùng trùng với số đã mua, thì ngƣời chơi thắng và đƣợc nhận số tiền gấp 3,5 lần số tiền đã bỏ ra, nếu không trúng thì ngƣời chơi bị mất số tiền đã bỏ ra mua số lô.

Lô xiên là ngƣời chơi chọn 2 cặp chữ số tự nhiên (xiên 2) tuỳ ý ngƣời chơi, khi mở thƣởng trong số 27 giải thƣởng của kết quả xổ số Miền Bắc, nếu có 2 cặp số trùng với số mà ngƣời chơi đã mua, thì ngƣời chơi đƣợc tính gấp 10 lần số tiền bỏ ra, nếu không trúng thì mất số tiền đã mua.

Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thƣởng hồi 18 giờ 15 phút ngày 23/12/2021, K không trúng số lô, số đề đã mua nên ngày 24/12/2021, K đã trả cho H số tiền 7.300.000đ, số tiền trên H đã chi tiêu hết nên không thu giữ đƣợc.

Đến hồi 17 giờ 40 phút ngày 24/12/2021, nhận đƣợc tin báo của quần chúng nhân dân, cơ quan CSĐT- Công an huyện Tứ Kỳ tiến hành làm việc đối với K và H. Quá trình làm việc, K và H thừa nhận có hành vi đánh bạc trái phép dƣới hình thức mua bán số lô, số đề, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng, lắp sim số 0332.346...., 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7, lắp sim số 0869940.... Cơ quan CSĐT- Công an huyện Tứ Kỳ đã lập biên bản vụ việc.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTK ngày 01-4-2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo Lê Thanh H và Đỗ Văn K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với các bị cáo; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với bị cáo H; Điều 36 BLHS đối với bị cáo K.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh H từ 06 đến 09 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tù, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ từ 5-8% thu nhập hàng tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao các bị cáo về chính quyền địa phƣơng nơi các bị cáo cƣ trú giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 BLHS; Phạt bổ sung bị cáo Lê Thanh H và Đỗ Văn K mỗi bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu nộp vào nhân sách Nhà nƣớc số tiền 7.300.000 đồng của bị cáo Lê Thanh H; tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 6 của K và 01 điện thoại di động OPPO A7 của H; trả lại H và K mỗi bị cáo 01 sim di động; các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Thông qua mạng xã hội Zalo, từ 17 giờ 08 phút đến 18 giờ 9 phút ngày 23/12/2021, tại nhà ở của Đỗ Văn K ở thôn A, xã N, huyện Tứ Kỳ. Đỗ Văn K đã sử dụng điện thoại di động Iphone 6, đăng nhập Zalo với tên “Việt K” nhắn tin tới điện thoại OPPO A7, đã đƣợc đăng nhập Zalo với tên “ECCM” của Lê Thanh H để mua của H số đề 50,52,55,00,77,88 với mỗi số 50.000 đồng; số lô xiên hai (63,90) và (10,93) mỗi số với số tiền 500.000 đồng, số lô 38,59,86 mỗi số với số tiền 2.000.000 đồng. Tổng số tiền K mua của H số lô, số đề 7.300.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thƣởng cùng ngày. K không trúng số lô, số đề đã mua. Nhƣ vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 7.300.000 đồng.

Các bị cáo đều là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhƣng vì vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Số tiền các bị cáo đánh bạc là 7.300.000 đồng nên hành vi của các bị cáo H, K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Vì vậy, VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an xã hội ở địa phƣơng. Do vậy, cần xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều trực tiếp tham gia đánh bạc; trong đó bị cáo Lê Thanh H là ngƣời bán số lô, số đề, đƣợc hƣởng số tiền đã thắng bạc nên giữ vai trò chính; Đỗ Văn K là ngƣời mua số lô, số đề của H nên giữ vai trò đồng phạm sau H.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của BLHS. Vì vậy, HĐXX sẽ xem xét khi lƣợng hình với các bị cáo cho phù hợp.

Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cƣ trú ổn định. Vì vậy bị cáo H chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hƣởng án treo, bị cáo K chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, khấu trừ một phần thu nhập cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành ngƣời tốt và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài việc áp dụng hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 7.300.000 đồng là tiền do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép, số tiền trên K đã trả đủ cho H, H đã chi tiêu cá nhân hết, nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nƣớc. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 của Đỗ Văn K; 01 điện thoại di động OPPO A7 của Lê Thanh H sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nƣớc. Đối với 01 sim thuê bao di động 0332.346.... của Đỗ Văn K, 01 sim thuê bao di động số 0869940... của Lê Thanh H không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy

Về án phí: Các bị cáo H, K phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 đối với các bị cáo; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với các bị cáo H; Điều 36 BLHS đối với bị cáo K.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh H, Đỗ Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

1.1. Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 08 (tám) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/4/2022.

1.2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ đƣợc tính từ ngày UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng nhận đƣợc quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Thanh H cho UBND xã Đ, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Giao bị cáo Đỗ Văn K cho UBND xã N, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Đỗ Văn K nộp vào ngân sách Nhà nƣớc trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

Phạt tiền các bị cáo Lê Thanh H, Đỗ Văn K mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 7.300.000 đồng của Lê Thanh H (bị cáo chƣa nộp số tiền trên), tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 6 của Đỗ Văn K; 01 điện thoại di động OPPO A7 của Lê Thanh H. Tịch thu tiêu hủy 01 sim thuê bao di động 0332.346.... của Đỗ Văn K, 01 sim thuê bao di động số 0869940... của Lê Thanh H.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 05/4/2022).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Lê Thanh H, Đỗ Văn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ