- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo La Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 23/2022/HS-ST Ngày 22 tháng 3 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bàn Văn Thế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang.
Ông Hoàng Văn Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 22/3/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/TLST-HS, ngày 11 tháng 03 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 03 năm 2022 đối với bị cáo:
La Trung T, sinh ngày 30/3/1977 tại huyện S, tỉnh T.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông La Trung T1, sinh năm 1938 và bà Vũ Thị C, sinh năm 1945; vợ: Hà Thị H1, sinh năm 1980; Có 02 con, con lớn 1999, con nhỏ 2008. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị H, sinh năm 1980.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Anh La Trung Đ, sinh năm 1999. Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh T. Bà H vắng mặt; anh Đ có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 05/01/2022 La Trung T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88K2-6504 (xe môt tô của bà Hà Thị H, vợ T), đến khu vực Cầu Sơn Dương thuộc tổ dân phố Kỳ Lâm, thị trấn Sơn Dương, huyện Sơn Dương mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại khu vực cầu Sơn Dương T mua được 02 gói Heroine gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ của một người đàn ông không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua xong, T điều khiển xe mô tô tới đoạn đường thuộc thôn Đèo Mon, xã Kháng Nhật, huyện Sơn Dương lấy một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số còn lại T cất giấu vào túi áo ngực bên trái và đi về nhà, khi đi đến đoạn đường ĐT 185 thuộc thôn Ninh Hòa, xã Hợp Hòa, huyện Sơn Dương thì bị Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương phát hiện, bắt người phạm tội quả tang vào hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày. T tự giác giao nộp 02 gói Heroine (trong đó 01 gói ngoài là lớp giấy nilon màu trắng, trong là lớp giấy màu trắng có dòng kẻ; 01 gói bằng lớp giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong cả hai gói đều chứa chất bột vón cục màu trắng).
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể T, kết quả (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể.
Kết luận giám định số 116/GĐKTHS ngày 08/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật (thu giữ của La Trung T) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,159gam (không phẩy một năm chín gam).
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương tạm giữ 01 phong bì bên trong có chứa ma túy đã được niêm phong, bên ngoài phong bì có chữ ký của bị cáo và đóng dấu của cơ quan giám định; 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel SYM màu xanh đen, biển kiểm soát 88K2 – 6504, đã qua sử dụng.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 34/CT-VKSSD, ngày 09/03/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố La trung T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Tuyên bố: Bị cáo La Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo La Trung T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của La Trung T và hình dấu của cơ quan giám định. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel SYM màu xanh đen, biển kiểm soát 88K2 – 6504 cho bà Hà Thị H.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 05/01/2022/ tại đoạn đường ĐT 185 thuộc thôn Ninh Hòa, xã Hợp Hòa, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. La Trung T, cư trú tại thôn Đồng Chùa, xã Hợp Hòa, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ 0,159g (Không phẩy một năm chín gam) Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Hành vi của La Trung T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về mức án Viện kiểm sát đề nghị:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định, để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Xét bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của La Trung T, các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Angel SYM màu xanh đen, biển kiểm soát 88K2 – 6504, là xe của bà Hà Thị H, bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Do bà H không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên cần trả lại chiếc xe cho bà H.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác.
Đối với hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy của bị cáo đã bị Công an huyện Sơn Dương xử lý vi phạm hành chính tại Quyết định số 22 ngày 17/01/2022 bằng hình thức phạt tiền; đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực cầu Sơn Dương, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý; đối với bà Hà Thị H cho T mượn xe mô tô nhưng không biết T sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo La Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo La Trung T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/01/2022).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định tại Kết luận giám định số 116/GĐKTHS ngày 08/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang) bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của La Trung T, các thành phần tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ La Trung T giám định ngày 05/01/2022”.
- Trả lại cho bà Hà Thị H 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Angel SYM màu xanh đen, biển kiểm soát 88K2 – 6504, xe đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (22/3/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam CA tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Công an huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Quang – Hoàng Văn Hùng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bàn Văn Thế THẨM PHÁN - CHỦTOẠ PHIÊN TOÀ Bàn Văn Thế |