vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang Tuyên án 22/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Minh P 15 (mười lăm) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 26/6/2022. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh P Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUANG BÌNH
TỈNH HÀ GIANG
___________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày 22 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:

Bà Trần Thị Mai Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bảo Long

Bà Hoàng Thị Hà

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Mạnh Cường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Quan Thị Tuyến - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với:

Bị cáo Hoàng Minh P, sinh năm 1964 tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Tổ 3, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; CCCD số 002064xxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 02/7/2021; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân S và bà Hoàng Thị L; có vợ là Trần Thị H và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 (bị Công an huyện Quang Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPHC ngày 16/9/2020, chưa chấp hành);

Nhân thân:

- Ngày 14/9/1981, có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bị Công an huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Tuyên lập biên bản cảnh cáo.

- Ngày 08/10/2008, bị Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

- Ngày 07/4/2020, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người có nguy cơ mắc bệnh dịch của cơ quan y tế.

(Các xử lý vi phạm hành chính này đã được xóa).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2022, tạm giam từ ngày 05/7/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ 01 phút ngày 26/6/2022 tại Km 23+100 đường Quốc lộ 279, thuộc tổ 1, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang, Hoàng Minh P bị tổ công tác Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang phát hiện có hành vi tàng trữ tại túi quần phía trước bên phải một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, bên trong có một mảnh giấy bạc gói 06 gói thuốc tân dược in chữ nước ngoài, vỏ màu trắng xanh; một hộp “Cao Sao vàng” màu sơn đỏ, trên nắp có in hình ngôi sao năm cánh màu vàng, bên trong hộp chứa chất nhựa màu nâu đen (nghi là nhựa thuốc phiện, sau đó được cân tịnh có khối lượng 3,259 gam); một gói giấy bạc bên trong chứa các hạt dạng cục màu đen (nghi là sái thuốc phiện, sau đó được cân tịnh có khối lượng 5,331 gam). Tổ công tác Công an huyện Quang Bình đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng trên và điện thoại, ví, giấy tờ cá nhân, tiền mặt tạm giữ của Hoàng Minh P. Hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Minh P tại tổ 3, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang, phát hiện và tạm giữ chất màu đen dạng bột (sau đó được cân tịnh có khối lượng 8,092 gam) gói trong túi nilon, tiến hành niêm phong; ngoài ra còn tạm giữ vật dụng mà được bị cáo khai là dùng để hút thuốc phiện.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình đã trưng cầu giám định đối với các vật chứng nghi là chất ma túy và tiền mặt đã tạm giữ của bị cáo P.

Theo Kết luận giám định số 232/KL-KTHS ngày 30/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang thì mẫu chất nhựa dẻo màu nâu đen gửi giám định là nhựa thuốc phiện, có khối lượng là 3,259g (ba phẩy hai trăm năm mươi chín gam) và “Thuốc phiện nằm trong danh mục I, mục ID, số thứ tự 47, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 60/2020/NĐ -CP, ngày 29/5/2020 của Chính phủ”.

Theo Kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 12/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang thì 07 tờ tiền gửi giám định trị giá 352.000đ (ba trăm năm mươi hai nghìn đồng) là tiền thật.

Theo Kết luận giám định số 5692/KL-KTHS ngày 08/9/2022 của Viện Khoa học hình sự Bộ công an thì:

- Trong 8,092 gam chất màu đen dạng bột gửi giám định tìm thấy các chất ma tuý Heroine, Morphine và Codeine. Hàm lượng Heroine, Morphine và Codeine trong mẫu lần lượt là 0,04%; 0,3% và 0,09%. Khối lượng chất ma tuý Heroine, Morphine và Codeine trong mẫu lần lượt là 0,003 gam; 0,024 gam và 0,007 gam.

- Trong 5,331 gam chất màu đen vón cục dạng xỉ than gửi giám định tìm thấy các chất ma tuý Heroine, Morphine và Codeine. Hàm lượng Heroine, Morphine và Codeine trong mẫu lần lượt là 0,2%; 0,7% và 0,1%. Khối lượng chất ma tuý Heroine, Morphine và Codeine trong mẫu lần lượt là 0,010 gam; 0,037 gam và 0,005 gam.

- Không tìm thấy chất ma tuý trong 2,316 gam mẫu chất bột màu trắng trong 06 (sáu) gói giấy màu trắng có hình giống nhau, mặt ngoài có hoa văn xanh và chữ nước ngoài gửi giám định.

Từ các kết quả giám định, xác định được khối lượng chất ma tuý Hoàng Minh P tàng trữ gồm: 3,259 gam nhựa thuốc phiện; 0,013 gam Heroine (0,003 gam Heroine trong 8,092 gam chất màu đen dạng bột + 0,010 gam Heroine trong 5,331 gam chất màu đen vón cục dạng xỉ than); 0,073 gam ma tuý khác (0,024 gam Morphine và 0,007 gam Codeine trong 8,092 gam chất màu đen dạng bột + 0,037 gam Morphine và 0,005 gam Codeine trong 5,331 gam chất màu đen vón cục dạng xỉ than). Theo quy định tại khoản 2 Điều 5, Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ, quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự, xác định được tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma tuý tàng trữ như sau:

+ 3,259 gam nhựa thuốc phiện, so với khối lượng nhựa thuốc phiện tối thiểu quy định tại điểm e khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự chiếm tỷ lệ 0,6% (3,259 gam so với 500 gam).

+ 0,013 gam Heroine, so với khối lượng Heroine tối thiểu quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự chiếm tỷ lệ 0,2% (0,013 gam so với 05 gam).

+ 0,073gam ma tuý khác (Morphine và Codeine) so với khối lượng tối thiểu của ma tuý khác quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự chiếm tỷ lệ 0,3% (0,073 gam so với 20 gam).

Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của nhựa thuốc phiện, Heroine, Morphine và Codeine là 1,1% (0,6% + 0,2% + 0,3% ), dưới 100%, nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Khi bị bắt quả tang cũng như quá trình điều tra, Hoàng Minh P thừa nhận mình là người nghiện ma tuý. Khoảng 21 giờ ngày 25/6/2022, Hoàng Minh P điều khiển xe máy Honda Dream, biển kiểm soát 23B1- 06619 từ tổ 3, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang đi ra khu vực cầu A, thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang để mua ma tuý. Khi đến cầu A, đoạn km 243+ 351 đường Quốc lộ 2, Hoàng Minh P dừng xe máy, đi bộ đến giữa cầu gặp một người đàn ông đeo khẩu trang, không nhìn rõ mặt (thấy mọi người nói người đó tên K), đang đứng trên thành cầu bên phải hướng huyện B đi thành phố Hà Giang; Hoàng Minh P đến gần hỏi có ma tuý không, người đàn ông tên K trả lời có và đưa trong túi quần ra 01 hộp cao sao vàng và nói ở trong có ma tuý với giá 800.000 đồng. Sau khi đưa tiền cho K xong, Hoàng Minh P hỏi K còn thuốc cảm và sái thuốc phiện không thì cho xin một ít; K lấy trong túi quần ra 02 gói giấy bạc bên trong có sái thuốc phiện và 06 gói thuốc cảm (thuốc tân dược) đưa cho Hoàng Minh P. Sau khi mua ma tuý xong, Hoàng Minh P cất ma tuý vào túi quần đằng trước phía bên phải rồi đi bộ đến chỗ để xe máy đi về để sử dụng ma tuý thì bị tổ công tác Công an huyện Quang Bình bắt quả tang.

Đối với người bán chất ma tuý cho Hoàng Minh P, lời khai của Hoàng Minh P không xác định được nhân thân, lai lịch của người này; quá trình điều tra không có chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình còn phát hiện trước đó, Hoàng Minh P và một số đối tượng khác có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong các ngày khác nhau nên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Phương và các đối tượng này bằng hình thức cảnh cáo.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-QB ngày 27/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình đã truy tố Hoàng Minh P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Minh P từ 14 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo; tuyên trả cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone và số tiền 352.000 đồng, tiêu hủy các vật chứng là chất ma túy còn lại sau khi giám định và các vật chứng khác, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên các hành vi, quyết định tố tụng này là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã có có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng đã nêu với mục đích để sử dụng, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép chất ma túy. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với các Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép 3,259 gam nhựa thuốc phiện; 0,013 gam Heroine; 0,073 gam ma túy khác (Morphine và Codeine); tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy trong vụ án này là 1,1% (dưới 100%) nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nên cần được nghiêm trị, lên một mức án tù tương xứng, mới bảo đảm cho việc phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma tuý.

Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn khi vợ của bị cáo bị khuyết tật mức độ đặc biệt nặng (mù hai mắt), hai vợ chồng không có công việc và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo hiện nay bị mắc bệnh suy giảm miễn dịch, phải điều trị bằng ARV; bố của bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì; nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Mặt khác, cũng cần xem xét việc khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là nhỏ, để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Do bị cáo hiện nay kinh tế khó khăn, không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại và số tiền mặt đã tạm giữ, là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, nên cần trả lại cho bị cáo. Các chất ma túy còn lại sau khi giám định, một số vật dụng dùng cho việc sử dụng ma túy và các vật chứng khác không còn giá trị sử dụng thì cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Minh P 15 (mười lăm) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 26/6/2022.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Trả cho bị cáo Hoàng Minh P 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, mặt sau máy có chữ Model A1779, loại màn hình cảm ứng, vỏ màn hình màu trắng kèm ốp lưng bằng nhựa màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng và số tiền là 352.000đ (ba trăm năm mươi hai nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

+ Nhựa thuốc phiện được đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1”, mặt sau phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia niêm phong.

+ Đối tượng giám định hoàn lại gồm mẫu ký hiệu A1: 5,660 gam mẫu chất màu đen dạng bột; Mẫu ký hiệu A2: 2,056 gam mẫu chất màu đen vón cục dạng xỉ than; các vỏ bao gói mẫu. Toàn bộ đối tượng hoàn lại được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín số 5693/C09(TT2), được niêm phong bởi các chữ ký ghi họ tên Đinh Thị Th, Vũ Đình M và các hình dấu đỏ của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an.

+ Các vật chứng khác còn lại trong Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 28/10/2022.

(Chi tiết các vật chứng thể hiện trong Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang ngày 28/10/2022).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Hoàng Minh P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự, trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Ngoài ra, người có quyền lợi có liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ