vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 05/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 30 (ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được qu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Dương - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày: 05 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ– TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’ Sung - Bà Trịnh Thị Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Kiều Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đtham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2002 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2022 đối với:

* Bị cáo Trần Ngọc D – Sinh ngày 20 tháng 6 năm: 1987, tại: Lâm Đồng; Nơi thường trú: Xóm 6, Thôn 1, xã Gia An, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đình Hồng – sinh năm 1956 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hoàng – sinh năm 1958 (đã chết); Vợ: bà Trần Thị Kim Yến – sinh năm 1988; Con: Trần Ngọc Phi – sinh năm 2010 và Trần Ngọc Mỹ Vy – sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã Gia An, huyện T, tỉnh Bình Thuận. “Có mặt”.

* Bị hại: Anh Nguyễn Bá Đ1 – Sinh năm 2000 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Bá Khoa – Sinh năm 1976, là bố của bị hại. Địa chỉ: Thôn 7, xã Mỹ Đức, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Phan Văn L – Sinh năm 1983.

Địa chỉ: Xóm 6, thôn 1, xã Gia An, huyện T, tỉnh Bình Thuận. “Có mặt”

2/ Chị Lê Thị Tươi – Sinh năm 1975

Địa chỉ: Xóm 6, thôn 1, xã Gia An, huyện T, tỉnh Bình Thuận. “Có mặt”.

* Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Văn Đ3 – Sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn 5, xã Mỹ Đức, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”

2/ Anh Nguyễn Hữu Thanh S – Sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn 5, xã Mỹ Đức, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30’ ngày 07/12/2021, Trần Ngọc D điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 86H-006.71 kéo theo Sơmi romooc biển kiểm soát 49R-002.46 chở gỗ tràm đi trên đường DDT hướng từ huyện Bảo Lâm về huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.Khi đến đoạn Km166 + 400, thuộc địa phận Thôn 5, xã Mỹ Đức, huyện Đ, D cho xe lấn trái đường để ôm cua thì gặp xe môtô biển kiểm soát 60M6-4022 do anh Nguyễn Bá Đ1 điều khiển đi ngược chiều. D điều khiển xe tiếp tục tránh sang phần đường bên trái (theo hướng di chuyển của D) và phanh xe. Xe môtô do anh Đ1 điều khiển cũng tránh về phần đường bên phải theo hướng di chuyển của anh Đ1 (tức bên trái của D). Vì cả 2 cùng tránh về một bên đường nên không tránh được nhau, xe môtô 60M6-4022 của anh Đ1 đã tông thẳng vào phía trước xe ôtô 86H-006.71 của D. Hậu quả: anh Nguyễn Bá Đ1 tử vong tại chỗ, 2 xe hư hỏng nặng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường vụ tai nạn là đoạn Km 166 + 400, đường ĐT 725, thuộc địa phận Thôn 5, xã Mỹ Đức, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Mặt đường trải nhựa rộng 7m47, phẳng nhẵn. Đường hơi cong về phía bên phải (theo hướng từ huyện Bảo Lâm đi huyện Đ), giữa đường có vạch kẻ đường màu vàng nét liền (vạch 1.2) chia 02 chiều đường, hai bên mép đường có vạch kẻ đường màu trắng liền nét (vạch 3.1) giới hạn mép ngoài đường. Trước và sau vị trí xảy ra tai nạn có biển báo hiệu “Chỗ ngoặt nguy hiểm” (biển W201 (a,b)). Đoạn đường có đèn chiếu sáng công cộng vào ban đêm.

Chọn hướng khám nghiệm từ huyện Bảo Lâm về huyện Đ, mép đường bên phải ( theo hướng khám nghiệm) làm đường chuẩn; cột điện số 476/236A ở lề đường bên trái, cách mép đường bên trái 1m80 làm mốc hiện trường ghi nhận vị trí các phương tiện, dấu vết như sau:

+ (01) vết chất lỏng màu đen, sánh, nhớt văng nhỏ giọt hình dẻ quạt (hình vòng cung) từ trước ra sau theo hướng khám nghiệm đầu dẻ quạt quay về phía H. Bảo Lâm, đuôi dẻ quạt về phía H. Đ), kích thước 2m44 x 1m40. Đầu vết dẻ quạt ( chỗ chất lỏng đậm nhất) cách mép đường chuẩn 3m87, cách mốc hiện trường 25m90.

+ (02) là xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 86H-006.71, kéo theo sơmi rơmooc biển kiểm soastR-002.46 đậu trên mặt đường bên trái. Đầu xe hướng về phía huyện Đ, đuôi xe hướng về phía huyện Bảo Lâm. Mép ngoài trục bánh sau cùng bên phải cách mép đường chuẩn 3m10, cách đầu vết (01) làm 1m40, cách mốc hiện trường là 27m14; mép ngoài 04 trục bánh sau bên phải tiếp theo lần lượt cách mép đường chuẩn là 3m19, 3m40, 3m90 và 4m03; mép ngoài trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 4m17; mép ngoài trục bánh trước bên trái cách mép đường bên trái là 0m95.

+ (03) là vết cà xước trên mặt đường bên trái, dài 2m25. Điểm đầu cách mép đường chuẩn 4m74, cách đầu vết (01) là 0m95, cách mép ngoài trục bánh xe sau cùng bên phải của xe ô tô (02) là 0m80; điểm cuối cách mép đường chuẩn 3m76;

+ (04) là vết cà xước trên mặt đường, dài 2m50, nằm ở phần đường bên trái; cuối vết hơi cong về bên phải. Điểm đầu cách mép đường chuẩn 4m51, cách cuối vết (03) là 3m10; điểm cuối cách mép đường chuẩn 4m62;

+ (05) là vết cày xước trên mặt đường, dài 4m20, rộng 0m01. Điểm đầu ở phần đường bên phải, cách mép đường chuẩn 3m24, cách cuối vết (04) là 1m80; điểm cuối nằm trên vạch kẻ tim đường, cách mép đường chuẩn 3m72;

+ (06) là vết chất lỏng màu đen, sánh, nhớt chảy loang từ phần đường bên phải về mép đường bên phải, kích thước 0m98 x 0m33. Đầu vết cách mép đường chuẩn 3m62, cách cuối vết (05) là 0m30’. Trong khu vực vết có cà xước dài 0m46 từ phần đường bên phải vào phía mép đường chuẩn.

+ (07) là xe mô tô 2 bánh, biển kiểm soát 60M6-4022 đổ nghiêng bên phải xe, nằm ngang đường. Đầu xe hướng về mép đường bên trái; đuôi xe hướng vào tim đường. Trục bánh sau xe cách mép đường chuẩn 1m80, cách đầu vết (06) là 1m86, cách mốc hiện trường 37m30’; trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 2m70;

+ (08) là vị trí nạn nhân nằm úp trên mặt đường, đầu hướng về phía lề đường bên phải, cách mép đường chuẩn 3m50, cách trục sau bánh xe mô tô (07) là 2m90. Từ người nạn nhân có nhiều máu chảy loang đến mép đường bên phải.

Kết quả khám nghiệm phương tiện: xe ô tô biển kiểm soát 86H-006.71, kéo theo Sơmi romooc biển kiểm soát 49R-002.46: Trên xe chở gỗ tràm, tổng khối lượng 48.000 kg; đèn xi nhan bên phải bị gẫy, bung ra ngoài; nắp ca bô phía trước bên phải tại vị trí cách mặt đất 1m65, cách thành bên phải xe 0m55 bị móp vào trong kích thước 40 x 20cm; mặt nạ phía trước bên phải tại vị trí cách mặt đất 1m30, cách thành bên phải xe 0m50 bị nứt vỡ hình sao, kích thước 15 x 13cm và tại vị trí cách mặt đất 1m30, cách thành bên phải xe 0m80 có vết nứt thẳng ngang với mặt đất dài 30cm; miếng nhựa ốp ở bên phải nắp cản trước bị bung ra ngoài; nắp trang trí dưới nắp cản trước bung ra ngoài, tấm kim loại sau nắp nhựa tại vị trí cách mặt đất 1m00, cách thành bên phải xe 0m60 bị móp và có vết cà xước trên bề mặt; đen pha bên phải bị vỡ kính và một phần chóa đèn; cản trước bên phải bị cong móp về sau 10cm, kích thước 80 x 45cm, tâm vết móp cách mặt đất 0m70, cách thành bên phải xe 0m85, trên bề mặt vết móp có lỗ thủng kim loại dai 5cm, rộng 2cm và nhiều vết cà xước S; miếng nhựa trang trí phía dưới cản trước bên phải bị gẫy rơi mất một đoạn dài 65cm, thanh kim loại phái sau miếng nhựa bị móp một đoạn 02 x 10 cm sâu 02 cm, vị trí móp sâu nhất cách mặt đất 0m35, cách thành bên phải xe 0m80. Xe môtô biển số 60M6-4022 ghi nhận: các bộ phận nhựa đầu xe và ốp tay lái, đèn phía trước… bị nứt vỡ, bung ra ngoài; các bộ phận kim loại bị gẫy, cong gập, cà xước; phuộc trước bên phải bị gãy; đùm trước, vành trước bị gẫy, nứt vỡ, cong vênh, lốp trước bị bể; khung xe bị cong gập về sau; động cơ xe bị vỡ, gẫy rời phần đầu; các bộ phận nhựa, cao su phía sau xe bị gãy vỡ, rơi ra ngoài; các bộ phân kim loại phía sau xe bị cong, cà xước, mài mòn.

Ngày 9/12/2021, Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận giám định pháp y xác định nguyên nhân anh Nguyễn Bá Đ1 chết là do đa chấn thương.

Như vậy, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do Trần Ngọc D điều khiển xe vi phạm “quy tắc chung” khi tham gia giao thông quy định tại Khoản 01, Điều 9 và “quy tắc tránh xe ngược chiều” quy định Khoản 01, Điều 17, Luật Giao thông đường bộ.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSĐT ngày 06/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Trần Ngọc D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 và Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự, cấm bị cáo hành nghề lái xe ôtô từ 12 (mươi hai) đến 15 (mười lăm) tháng. Không đề nghị khấu trừ thu nhập.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường nên không đề cập.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản cáo trạng truy tố và nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện là hợp pháp.

Về chứng cứ xác định tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 7/12/2021, Trần Ngọc D không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 86H-006.71 kéo theo romooc chở Tràm đi theo đường ĐT 725 hướng từ xã Mỹ Đức, huyện Đvề thị trấn Đ. Khi đi đến đoạn Km 166 + 500 đường ĐT 721 thuộc thôn 5, xã Mỹ Đức, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì gặp khúc cua, D cho xe lấn trái đường để ôm cua thì phát hiện 01 xe môtô biển kiểm soát 60M6-4022 do anh Nguyễn Bá Đ1 điều khiển đi ngược chiều cũng đang ôm cua. D điều khiển xe tiếp tục tránh sang phần đường bên trái (theo hướng di chuyển của D) và phanh xe nhưng xe môtô do anh Đ1 điều khiển cũng tránh về phần đường bên phải theo hướng di chuyển của anh Đ1 (tức bên trái của D) nên xe môtô 60M6-4022 của anh Đ1 đã tông thẳng vào phía trước xe ôtô 86H-006.71 của D gây ra vụ tai nạn làm anh Nguyễn Bá Đ1 tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm “quy tắc chung” khi tham gia giao thông quy định tại khoản 01, Điều 9 và “quy tắc tránh xe ngược chiều” quy định khoản 01, Điều 17, Luật Giao thông đường bộ, và điều khiển phương tiện tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định. Qua lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Về nhân thân: Ngày 15/11/2021, Trần Ngọc D bị Thanh tra Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Phước ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải, số tiền 2.500.000đồng. Hình phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày 15/11/2021. D đã chấp hành xong hình phạt tiền ngày 13/12/2021. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác khi tham gia giao thông. Bị cáo D không có giấy phép lái xe ô tô theo quy định, bị cáo không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông khi tham gia giao thông đường bộ nên đã gây tai nạn, hậu quả làm chết một người. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì: Sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án thấp nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành người hữu ích là phù hợp Điều 36 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, đối với xe ô tô biển số 86H-006.71 mà bị cáo D điều khiển là của anh Phan Văn L và chị Lê Thị Tươi (là đồng sở hữu chiếc xe), khi bị cáo D bị thanh tra giao thông tỉnh Bình Phước tạm giữ bằng lái xe, D không nói cho anh L và chị Tươi biết nên các đồng sở hữu này vẫn thuê và giao xe cho D điều khiển xe chở hàng nên hành vi giao xe của anh L và chị Tươi không đủ yếu tố cấu thành tội “Điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 263 BLHS nên cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Phan Văn L và chị Lê Thị Tươi là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo D và gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 chiếc xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 86H-006.71, kéo theo sơmi rơmooc biển kiểm soát 49R-002.46.

- 01 xe môtô biển kiểm soát 60M6-4022.

Xác định chiếc xe đầu kéo romooc do Trần Ngọc D điều khiển và chiếc xe máy do Nguyễn Bá Đ1 điều khiển khi xảy ra tai nạn là tài sản hợp pháp của anh Phan Văn L và ông Nguyễn Bá Khoa nên cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L và ông Khoa là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc D 30 (ba mươi) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Bị cáo không bị khấu trừ thu nhập.

Giao bị cáo Trần Ngọc D cho UBND xã Gia An, huyện T, tỉnh Bình Thuận, giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự cấm bị cáo hành lái xe ôtô 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vẫn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ