vanban.org

Bản án 23/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!ĐẮK!R’LẤP!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
!!TỈNH!ĐẮK!NÔNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:23/2022/DS-ST
Ngày 28/7/2022
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán”
!
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐĂK!R’LẤP,!TỈNH!ĐẮK!NÔNG!
!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Tạ
Bà Đoàn Thị Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp tham gia phiên tòa: Ông Lê
Minh Giáp – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2022 tại phòng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đắk
R’Lấp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 22/2022/TLST-
DS ngày 07 tháng 3 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 21/2022/QĐXXST- DS ngày 22 tháng 6 năm
2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2022,
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1978
Địa chỉ: Thôn 02, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
Bị đơn: Bà Dương Thị Ngọc H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Thôn 4, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt tại phiên tòa không có
lý do.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn bà Nguyễn Thị Thu Hi trình bày:

Bà với bà Dương Thị Ngọc H có mối quan hệ quen biết với nhau, trong năm

2017 và năm 2018 bà bán phân bón cho bà Dương Thị Ngọc H nhiều lần, sau khi mua phân thì bà H còn nợ tiền mua phân của bà, cụ thể: Ngày 25/4/2017 bà H nợ số tiền 12.480.000 đồng; ngày 11/8/2017 bà H nợ số tiền 11.946.000 đồng; ngày 01/11/2017 bà H nợ số tiền 2.620.000 đồng; ngày 24/5/2018 bà H nợ số tiền 12.780.000 đồng; ngày 12/09/2018 bà H nợ số tiền 18.800.000 đồng. Tổng số tiền mua phân bón bà Dương Thị Ngọc H còn nợ bà là 59.956.000 đồng.

Khi nợ tiền mua phân bón bà H và bà đều viết giấy tay với nhau (viết trong

sổ) và bà H ký nhận nợ, bà H cam kết thời gian trả nợ cho bà là tháng 12/2017 và tháng 12/2018. Tuy nhiên khi đến hạn trả nợ bà đã nhiều lần yêu cầu bà Dương Thị Ngọc H trả tiền nhưng bà H cứ khất lần cho đến nay vẫn chưa trả nợ cho bà.

Nay bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đắk

R’Lấp giải quyết buộc bà Dương Thị Ngọc H phải trả cho bà số tiền 59.956.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi suất.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Dương Thị Ngọc H trình

bày:

Bà thừa nhận năm 2017 và năm 2018 có mua phân bón của bà Nguyễn Thị

Thu H nhiều lần, do thời gian đã lâu nên bà không nhớ số lần mua và thời gian cụ thể, hiện tại bà còn nợ bà H số tiền mua phân bón là 59.956.000 đồng.

Số tiền mua phân bón bà còn nợ của bà Hiếu đã quá thời hạn trả nhưng do

mấy năm nay giá nông sản xuống thấp nên bà chưa trả được tiền nợ cho bà H.

Hiện nay bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu bà trả số tiền 59.956.000

đồng, bà cam kết sẽ sắp xếp để trả số tiền nợ cho bà Hiếu trong thời gian sớm nhất.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp phát biểu quan điểm về

trình tự thủ tục tố tụng: Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, thiết lập hồ sơ và thu thập chứng cứ đúng trình tự. Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đúng nguyên tắc, người tham gia tố tụng chấp hành quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản

1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 4 Điều 177, Điều 179, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự; Điều 25, Điều 26, Điều 27 Nghịquyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của bà Nguyễn Thị Thu H đối bà Dương

Thị Ngọc H

Buộc bà Dương Thị Ngọc H phải trả cho Nguyễn Thị Thu H số tiền gốc

59.956.000 đồng.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết

quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện

và lời khai của bà Nguyễn Thị Thu H, về việc yêu cầu bà Dương Thị Ngọc H trả số tiền 59.956.000 đồng theo giấy nợ tiền mua phân bón đề ngày 25/4/2017; ngày 11/8/2017; ngày 01/11/2017; ngày 24/5/2018; ngày 21/12/2018 thì đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng mua bán” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 430 của Bộ luật Dân sự. Bà Dương Thị Ngọc H là bị đơn trong vụ án có địa chỉ tại: Thôn 4, xã Nhân Đạo, huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắk Nông, vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Thị Ngọc H, có địa chỉ tại: Thôn 4, xã Nhân

Đạo, huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình giải quyết vụ án bà Dương Thị Ngọc H có mặt tại Tòa án viết bản tự và Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà H. Tuy nhiên tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng bà Dương Thị Ngọc H vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Dương Thị Ngọc H theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu

bà Dương Thị Ngọc H trả số tiền mua phân bón là 59.956.000 đồng, theo giấy nợ tiền mua phân bón đề ngày 25/4/2017; ngày 11/8/2017; ngày 01/11/2017; ngày 24/5/2018; ngày 21/12/2018, quá trình giải quyết vụ án bà Dương Thị Ngọc H thừa nhận bà có nợ bà H số tiền 59.956.000 đồng đến nay chưa trả, đây là vấn đề các bên đương sự đã thừa nhận không cần chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Việc mua bán phân bón giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp

luật, không trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, khi đến hạn trả tiền bà Dương Thị Ngọc H chưa trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 59.956.000 đồng là vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự. Vì vậy, căn cứ vào giấy nợ tiền mua phân bón đề ngày 25/4/2017; ngày 11/8/2017; ngày 01/11/2017; ngày 24/5/2018; ngày 21/12/2018, Hội đồng xét xử xác định bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện bà Dương Thị Ngọc H yêu cầu bà H trả số tiền 59.956.000 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Từ những phân tích và đánh giá toàn bộ chứng cứ mà các đương sự cung cấp

cho Tòa án, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H. Buộc bà Dương Thị Ngọc H phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 59.956.000 đồng (Năm mươi chín triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn

phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo

quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[6] Xét quan điểm và nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân

huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 5 Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 430, Điều 434, Điều 440 của Bộ luật Dân sự; Điều 25, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội. !

Tuyên!xử:!

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H đối với bà Dương

Thị Ngọc H.

Buộc bà Dương Thị Ngọc H phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền

59.956.000 đồng (Năm mươi chín triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Áp dụng Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tính lãi suất chậm

thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Buộc bà Dương Thị Ngọc H phải nộp 2.997.700 đồng (Hai triệu

chín trăm chín mươi bảy nghìn bảy trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Thu H được nhận lại 1.498.000 đồng (Một triệu bốn trăm

chín mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004710 ngày 01/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông.

4. Về quyền kháng cáo:!Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng

cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”. !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!T/M.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! Nơi!nhận:!

Thẩm!phán!–!chủ!tọa!phiên!tòa! -!TAND tỉnh Đắk Nông;

- VKSND huyện Đắk R’Lấp;

- Chi cục THADS huyện Đắk R’Lấp;

- Các đương sự;

- Lưu HS, VP.!! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Nguyễn!Hồng!Nguyên

Cỡ chữ