- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Chiến phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Thủy, Trần Văn Chiến và Phạm Thị Tùng phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HSST Ngày: 29/4/2021 |
NHÂN DANH
viÖt
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
nam
§
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
éc LËp
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Tù
do-
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
H¹nh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
phóc
-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 và 29 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2021/HSST ngày 30/3/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HS ngày 12/4/2021 đối với các bị cáo: 1. Trần Thanh T - sinh năm 1987, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Chẩn Kỳ, xã Trung Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu Oanh và bà Đàm Thị Đăng; có chồng Nguyễn Văn Mạnh - SN 1982 và 03 con (lớn nhất SN 2012, nhỏ nhất SN 2020); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt. 2. Trần Văn C- sinh năm 1973, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Vọng Tân, xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Trực và bà Nguyễn Thị Tám; có vợ Chu Thị Quyến - SN 1980 và 03 con (lớn nhất SN 2001, nhỏ nhất SN 2009); tiền án, tiền sự: không; Bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 05/01/2021 đến ngày 11/01/2021 tại ngoại. Có mặt. 3. Phạm Thị T- sinh năm 1969, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Ngọc Động, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Băng và bà Nguyễn Thị Chòe (đều đã chết); có chồng Nguyễn Văn Miền – SN 1966 và 06 con (lớn nhất SN 1987, nhỏ nhất SN 1997); tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 05/01/2021 đến ngày 11/01/2021 tại ngoại. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Văn Quyền – sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.
* Người làm chứng: Phạm Văn Vũ – sinh năm 1964, Phạm Văn Lùng – sinh năm 1983, Nguyễn Văn Hội – sinh năm 1978, Lê Văn Cau – sinh năm 1989, Lê Thành Luân – sinh năm 1984, Nguyễn Văn Hiệp – sinh năm 1971, Lê Tiến Dũng – sinh năm 1980, Lê Văn Hóa – sinh năm 1987 (Đều vắng mặt)
Đều trú tại: thôn Ngọc Động, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 05/01/2021, nhận được tin báo tại nhà Trần Văn Chiến - SN 1973 ở thôn Vọng Tân, xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa và nhà Phạm Thị Tùng - SN 1969 ở thôn Ngọc Động, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa có một số người đang mua, bán số lô, số đề.
Khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện Ứng Hòa tiến hành kiểm tra thì phát hiện Nguyễn Văn Quyền - SN 1994, trú tại thôn Nam Dương, xã Hòa Nam, huyện Ứng Hòa đến nhà Trần Văn Chiến mua 310.000 đồng (Viết tắt: đ) tiền lô, đề (05 điểm lô 14 x 22.000đ/01 điểm = 110.000đ; đề 94 và 69 mỗi số 100.000đ). Khi Quyền vừa đưa tiền cho Chiến thì bị bắt quả tang.
Sau đó, khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính nhà ở của Phạm Thị Tùng thấy Tùng đang xem điện thoại. Qua kiểm tra điện thoại của Tùng phát hiện ngày 04/01/2021, Phạm Thị Tùng sử dụng điện thoại gửi các số lô, số đề từ tài khoản Zalo “Pham Thanh Tung” đến tài khoản tên Zalo “Trần Thủy”. Tại nhà Phạm Thị Tùng lúc này có Phạm Văn Vũ – SN 1964; Phạm Văn Lùng – SN 1983; Nguyễn Văn Hội – SN 1978; Lê Văn Cau - SN 1989; Lê Thành Luân - SN 1984; Nguyễn Văn Hiệp - SN 1971; Lê Tiến Dũng - SN 1980; Lê Văn Hóa - SN 1967, tất cả đều trú tại thôn Ngọc Động, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội đang ngồi uống nước. Sau khi kiểm tra điện thoại của Tùng phát hiện Tùng liên quan đến hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề nên Tổ công tác đã yêu cầu Tùng đến trụ sở Công an huyện Ứng Hòa làm việc thì Tùng đã đầu thú và khai báo về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức mua bán số lô, số đề của mình. Cả Chiến và Tùng đều khai nhận bán số lô, số đề cho người chơi rồi tổng hợp lại chuyển qua Zalo cho Trần Thanh Thủy - SN 1987, trú tại thôn Chẩn Kỳ, xã Trung Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội.
Khi triệu tập Trần Thanh Thủy đến Cơ quan điều tra Công an huyện Ứng Hòa làm việc thì Thủy đã khai nhận toàn bộ hành vi mua, bán số lô, số đề của bản thân.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Trần Văn Chiến: + 810.000 đ, + 01 tích kê ghi số lô, số đề; + 01 điện thoại Samsung Galaxy S7 edge màu đen, số Imei 355647070177059, số Imei 2: 355647070177059;
- Thu giữ của Phạm Thị Tùng: + 01 điện thoại Samsung galaxy M21 màu đen có số Imei 1: 3552632111315128, số Imei 2: 355264111315126;
- Thu giữ Trần Thanh Thủy: + 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 4 pro màu trắng có số Imel 1: 355263111315128, số Imel 2: 355264111315126.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng đầu tháng 01/2021, Phạm Thị Tùng và Trần Văn Chiến biết Trần Thanh Thủy có nhận bảng bán số lô số đề nên Tùng và Chiến đã bán số lô, số đề cho người chơi rồi sử dụng tài khoản Zalo của mình (của Tùng là “Pham Thanh Tung”, của Chiến là “Tranchien”) nhắn tin chuyển số lô, số đề vào tài khoản zalo của Trần Thanh Thủy là “Trần Thủy”. Các bên thống nhất: Đối với “Đề” Thủy thu của Tùng 85% số tiền đánh, thu của Chiến 75% số tiền đánh, nếu trúng (02 số cuối của giải đặc biệt) thì được gấp 70 lần số tiền đánh, tức là đánh 1.000đ thì được 70.000đ. Đối với “Lô” Thủy thu của Chiến và Tùng 21.800đ/1 điểm, nếu trúng 02 số cuối các giải thì 01 điểm được 80.000đ; Lô xiên Thủy thu của Tùng 85% số tiền đánh, thu của Chiến 75% số tiền đánh; trúng lô xiên 2 được gấp 10 lần số tiền đánh (đánh 1.000đ thì được 10.000đ); trúng lô xiên 3 thì được gấp 40 lần; lô xiên 4 được gấp 100 lần. Đề ba càng Thủy thu của Chiến 75% số tiền đánh, của Tùng là 85%, nếu trúng thì được gấp 400 lần số tiền đánh. Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc cùng ngày Thủy sẽ tự tính thắng thua rồi thanh toán cho Chiến và Tùng.
Cụ thể:
1. Về hành vi đánh bạc giữ Trần Văn Chiến và Trần Thanh Thủy.
Ngày 01/01/2021, Chiến bán các ô số lô đề cho khách sau đó ghi ra giấy rồi chụp ảnh gửi zalo lưu là “Manhthuy” cho Thủy với tổng các số lô, số đề như sau: tổng đề ba càng là 50.000đ, Chiến thu của khách 80% số tiền đánh là 40.000đ, chuyển cho thủy 75% là 37.500đ. Tổng số tiền đánh đề là 4.428.000đ, thu của khách 80% là 3.542.000đ, chuyển cho Thủy 75% là 3.321.000đ. Tổng số lô là 105 điểm x 22 là 2.310.000đ, chuyển cho Thủy mỗi điềm lô 21.800đ, tổng là 2.289.000đ; tất cả tin nhắn Thủy trả lời “ok” tức là đồng ý với tin nhắn đó. Tổng số tiền đánh lô, đề Chiến thu của khách là 3.542.000đ + 2.310.000đ + 40.000đ = 5.892.000đ, Tổng số tiền đánh lô, đề Chiến đã chuyển cho Thủy là 3.321.000đ + 2.289.000đ + 37.500đ = 5.647.500đ. Kết quả, Chiến trúng số đề 85 là 50.000đ x 70 = 3.500.000đ. Đối trừ số tiền thắng thua, Chiến đã đưa cho Thủy 2.147.500đ và Chiến đã thanh toán 3.500.000đ cho khách trúng đề.
Ngoài ra, Chiến còn khai nhận ngày 05/01/2021 có bán số đề cho một người đàn ông khoảng 60 tuổi với tổng số tiền 160.000đ, chưa chuyển cho Thủy thì bị phát hiện.
2. Về hành vi đánh bạc giữa Phạm Thị Tùng và Trần Thanh Thủy.
Ngày 04/01/2021, Tùng bán các số lô, số đề cho một số người chơi sau đó ghi ra giấy rồi chụp ảnh gửi zalo “Trần Thủy” cho Thủy với tổng số lô, số đề như sau: Tổng số lô là 180 điểm, Tùng thu của khách 23.000đ/1 điểm là 4.140.000đ, chuyển cho Thủy mỗi điểm Lô là 21.800đ, tổng là 3.920.000đ; đề Tùng thu của khách 100% số tiền đánh với tổng số tiền là 1.760.000đ, chuyển cho Thủy 85% là 1.496.000đ; đề ba càng thu 100% số tiền đánh với tổng số tiền là 80.000đ, chuyển cho Thủy 85% là 68.000đ; lô xiên 3 là 20.000đ, chuyển cho Thủy 85% là 17.000đ. Tất cả tin nhắn Tùng gửi Thủy đều trả lời “ok” tức là đồng ý. Tổng số tiền đánh lô, đề Tùng thu của khách là 4.140.000đ + 1.760.000đ + 80.000đ + 20.000đ = 6.000.000đ. Tổng số tiền đánh lô đề Tùng đã chuyển cho Thủy là 3.920.000đ + 1.496.000đ + 17.000đ + 68.000đ = 5.501.000đ. Kết quả, Tùng trúng lô 16 là 10 điểm, trúng hai nháy lô 88 là 80 điểm, trúng hai nháy lô 09 là 10 điểm, trúng hai nháy lô 95 là 20 điểm, trúng ba nháy lô 14 là 15 điểm, tổng số tiền trúng là 135 điểm x 80.000đ = 10.800.000đ. Đối trừ số tiền thắng thua, Thủy đã đưa cho Tùng 5.299.000đ và Tùng đã thanh toán 10.800.000đ cho các khách đánh trúng.
Như vậy:
- Tiền sử dụng để đánh bạc của Thủy ngày 01/01/2021 là 9.147.500đ, ngày 04/01/2021 là 16.301.000đ. Tổng số là 25.448.500đ; số tiền Thủy thu lời bất chính là 2.147.500đ.
- Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của Chiến trong hai ngày 01/01/2021 và 05/01/2021 là 5.892.000đ + 3.500.000đ + 160.000đ + 310.000đ = 9.862.000đ. Số tiền thu lời bất chính của Chiến là 244.500đ.
- Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc của Tùng ngày 04/01/2021 là 6.000.000đ + 10.800.000đ = 16.800.000đ, số tiền Tùng thu lời bất chính là 499.000đ.
Bản Cáo trạng số 19/CT –VKS ngày 28/3/2021 của VKSND huyện Ứng Hòa truy tố Trần Thanh Thủy, Trần Văn Chiến và Phạm Thị Tùng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự (viết tắt: BLHS). Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của BLHS cho cả ba bị cáo; áp dụng thêm khoản 3 Điều 321 và điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS đối với bị cáo Thủy
Xử phạt Trần Thanh Thủy, Trần Văn Chiến và Phạm Thị Tùng mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.
Phạt bổ sung bị cáo Thủy từ 10 đến 20 triệu đồng sung quĩ Nhà nước;
Buộc các bị cáo phải giao nộp lại số tiền thu lời bất chính để sung quỹ Nhà nước: Bị cáo Thủy 2.147.500đ; bị cáo Chiến 244.500đ; bị cáo Tùng 499.000đ.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 470.000đ trong số tiền 810.000đ thu giữ của Trần Văn Chiến, số còn lại là tiền do bị cáo lao động mà có nên trả lại bị cáo nhưng bảo thủ để thi hành án; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy S7 edge màu đen (thu giữ của Chiến), 01 điện thoại Samsung Galaxy M21 màu đen (thu giữ của Tùng), 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 4 pro màu trắng (thu giữ của Thủy); tịch thu tiêu hủy 01 tích kê ghi số lô, số đề (thu giữ của Chiến).
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thực hiện và áp dụng pháp luật: Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng thu giữ. Như vậy, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) có đủ căn cứ xác định:
Ngày 01/01/2021, Trần Văn Chiến đã đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền với Trần Thanh Thủy, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 9.392.000đ; ngoài ra, ngày 05/01/2021, Chiến còn đánh bạc với Nguyễn Văn Quyền số tiền 310.000đ và với một người đàn ông không quen biết số tiền 160.000đ. Tổng số tiền Chiến sử dụng đánh bạc là 9.862.000đ.
Ngày 04/01/2021, Phạm Thị Tùng đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Trần Thanh Thủy, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.800.000đ.
Tổng số tiền Trần Thanh Thủy sử dụng vào mục đích đánh bạc với Trần Văn Chiến và Phạm Thị Tùng là 25.448.500đ.
Hành vi đánh bạc của các đối tượng đã trực tiếp xâm hại đến nếp sống văn hóa mới, ảnh hưởng đến sản xuất kinh tế, là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, bạo lực gia đình và các tệ nạn xã hội khác, làm gia tăng tội phạm và gây mất ổn định xã hội ở địa phương. Với số tiền tham gia đánh bạc, theo qui định của pháp luật hình sự thì hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” qui định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản luật áp dụng như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật. [4] Xem xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án thấy: Các bị cáo tuy có sự thống nhất về tỷ lệ, về phương thức đánh bạc nhưng hành vi và tính chất là đơn giản nên vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Thủy là người nhận mua số lô, đề của Chiến và Tùng, đồng thời thanh toán cho Chiến và Tùng; bị cáo Chiến và Tùng trực tiếp bán số lô, đề cho người chơi và trực tiếp thanh toán nếu họ thắng. Xét mục đính của cả ba bị cáo đều nhằm thu lời bất chính từ người mua số lô, đề nên đều có vai trò như nhau; hành vi của các bị cáo là giản đơn, số tiền thu lời không lớn, thời gian thực hiện không nhiều nên không đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc; tuy nhiên, xét về vai trò thì bị cáo Thủy giữ vai trò chính nên phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nhưng cố ý vi phạm. Vì vậy, phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh bản thân và gia của các bị cáo thấy: Bị cáo Thủy có 01 tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Trần Văn Chiến cũng có 02 lần bán lô, đề là ngày 01/01/2021 và ngày 05/01/2021; tuy nhiên, số tiền bán lô, đề ngày 05/01/2021 của Chiến dưới mức tối thiểu qui định truy cứu trách nhiệm hình sự nên Chiến không bị coi là phạm tội nhiều lần. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Mặt khác, xét việc bị cáo Thủy phạm tội trong thời gian vừa mới sinh con, hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; bị cáo Tùng xin đầu thú, hiện sức khỏe yếu, có nhiều bệnh, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức có phần hạn chế; bị cáo Chiến là lao động chính trong gia đình; các bị cáo đều có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn và xin giảm nhẹ hình phạt nên có thể xem xét cho các bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Về nhân thân: trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân tốt.
Căn cứ tính chất, vai trò, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh bản thân và gia đình của từng bị cáo, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện qui định tại Điều 65 của BLHS là thỏa đáng; đồng thời chỉ cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Thủy ở mức thấp là thỏa đáng, để các bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật hình sự và tính nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
Đối với Nguyễn Văn Quyền, ngày 05/01/2021 mua số lô đề của Trần Văn Chiến với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 310.00 đồng, bản thân Quyền chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hay gá bạc, nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Quyền bằng hình thức phạt tiền là phù hợp nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với đàn ông Chiến khai khoảng 60 tuổi mua số đề của Chiến ngày 05/01/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được, bản thân Chiến cũng không biết người này là ai, ở đâu, do vậy không có căn cứ để xử lý.
Đối với Phạm Văn Vũ, Phạm Văn Lùng, Nguyễn Văn Hội, Lê Văn Cau, Lê Thành Luân, Nguyễn Văn Hiệp, Lê Tiến Dũng, Lê Văn Hóa đều có mặt tại nhà Tùng khi kiểm tra bắt giữ Tùng; quá trình điều tra Cơ quan điều tra không có tài liệu chứng cứ chứng minh được những người này tham gia mua bán số lô, số đề với Phạm Thị Tùng, cũng không hỗ trợ hay giúp sức gì cho Phạm Thị Tùng nên không có căn cứ làm rõ xử lý; do vậy HĐXX không xét.
Đối với những người mua số lô, đề của Chiến ngày 01/01/2021 và của Tùng ngày 04/01/2021, quá trình điều tra Chiến và Tùng khai không nhớ những người này cụ thể là ai, ở đâu, nên Cơ quan điều tra không làm rõ được nên HĐXX không xét.
Đối với số tiền thu lời bất chính của Thủy là 2.147.500đ, Chiến là 244.500đ, Tùng 499.000đ cần buộc các bị cáo phải giao nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng vụ án: Số tiền 810.000 đồng thu giữ của bị cáo Chiến, trong đó có 470.000đ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quĩ Nhà nước, số còn lại 340.000đ là tiền hợp pháp của bị cáo nên trả lại bị cáo. 03 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, các bị cáo đều sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá sụng quỹ Nhà nước; tích kê ghi lô đề thu giữ của bị cáo Chiến cần tịch thu hủy bỏ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án (áp dụng chung cho cả ba bị cáo). Áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thanh Thủy.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Thủy, Trần Văn Chiến và Phạm Thị Tùng phạm tội “Đánh bạc”.
* Xử phạt Trần Thanh Thủy 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án. Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền thu lời bất chính 2.147.500đ (Hai triệu một trăm bốn mươi bẩy nghìn năm trăm đồng) để sung quỹ Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước. Giao bị cáo Trần Thanh Thủy cho UBND xã Trung Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
* Xử phạt Trần Văn Chiến 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền thu lời bất chính 244.500đ (Hai trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm đồng) để sung quỹ Nhà nước. Giao bị cáo Trần Văn Chiến cho UBND xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
* Xö ph¹t Phạm Thị Tùng 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền thu lời bất chính 499.000đ (Bốn trăm chín mươi chín nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước. Giao bị cáo Phạm Thị Tùng cho UBND xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về vật chứng: Tịch thu sung quĩ Nhà nước 470.000đ (Bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng) trong số 810.000 đ (Tám trăm mười nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Trần Văn Chiến, số còn lại 340.000đ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng) trả lại bị cáo; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy S7 edge màu đen, 01 điện thoại Samsung Galaxy M21 màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 4 pro màu trắng; tịch thu tiêu hủy 01 tích kê ghi số lô, số đề. Số tiền, điện thoại và tích kê ghi số lô đề có tình trạng, đặc điểm như giấy ủy nhiệm chi ngày 23/4/2021 giữa Công an huyện Ứng Hòa và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa tại Kho bạc nhà nước huyện Ứng Hòa và Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ứng Hòa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày 23/4/2021.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo nội dung liên quan đến quyền lợi của chính mình).
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS Ứng Hòa; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS, VP./. Các hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà |