- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HSST Ngày 14-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Nhung và bà Lò Thị Dậu
- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở TAND huyện T, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện T tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2021/TLST-HS ngày 27/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST-HS ngày 27/4/2021 đối với bị cáo: Họ và tên: Sùng A S - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1967, tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng, nương; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông: Sùng A S (đã chết) và bà Giàng Thị C - Sinh năm 1933; Vợ là Giàng Thị C - Sinh năm 1968 và 08 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền sự: Không. Tiền án: Không; Chức vụ đảng, chính quyền: không; Nhân thân: Bị cáo nghiện chất ma túy, chưa bị cơ quan nào xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử. Tạm giữ từ ngày 11/01/2021 đến ngày 14/01/2021, tạm giam: từ ngày 14/01/2021 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho Bị cáo: bà Lò Thị Khánh Hà- là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Giàng Thị C- sinh năm 1968, Nơi cư trú: thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt Người phiên dịch: ông Giàng A D – Sinh năm: 1985; Địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ sáng ngày 11/01/2021 Bị cáo Sùng A S đi xe mô tô biển kiểm soát 27T1 – 028.95 xuất phát từ nhà tại thôn Nà Xa, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, đi lên Phòng khám xã X, huyện T để uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc xong Bị cáo vào thôn P, xã X, huyện T chơi và để tìm mua Heroine sử dụng, tại đây Bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Mông Bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua được 02 (Hai) gói Heroine, mỗi gói được gói ngoài bằng một mảnh giấy nilon màu hồng với giá 270.000 đồng. Sau khi mua được Heroine Bị cáo cất giấu 01 gói vào trong ngón cái của chiếc găng tay bên trái mà mình đang đeo, gói còn lại Bị cáo cất trong túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi về nhà, đến ngã ba đường rẽ vào xã M, huyện T Bị cáo Sùng A S bị Tổ công tác của Công an huyện T bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ của Bị cáo gồm:
+ 02 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy nilon màu hồng bên trong có các cục chất bột màu trắng đục thể rắn.
+ 01 chiếc găng tay màu đen.
+ 01 chiếc xe mô tô, loại xe Win, nhãn hiệu FIGO, biển kiểm soát 27T1-028.95
Ngày 12/01/2021, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 0,4122 gam; lấy 0,0858 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 0,3264 gam.
Kết luận giám định số 167/GĐ-PC09 ngày 24/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A S gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine- có khối lượng 0,4122 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP của Chính Phủ. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Cáo trạng số 15/CT-VKSHTC ngày 26 tháng 4 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Sùng A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và 01 chiếc găng tay, tịch thu sung ngân sách nhà nước ½ giá trị chiếc xe mô tô thu giữ của Bị cáo và trả lại cho vợ bị cáo ½ giá trị xe, đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét về điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa và hiểu biết pháp luật rất hạn chế, quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, khi tổ công tác kiểm tra Bị cáo đã tự nguyện lấy ma túy ra giao nộp, đề nghị HĐXX áp dụng cho Bị cáo các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, về chiếc xe mô tô là tài sản chung của gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để đảm bảo quyền lợi cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Giàng Thị Chu trình bày chiếc xe mô tô Cơ quan điều tra thu giữ là tài sản chung của gia đình và đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe mô tô. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và bản kết luận giám định.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 11/01/2021 bị cáo đã mua được của 01 người phụ nữ không quen biết 02 gói nhỏ chứa chất ma túy loại Heroine trị giá 270.000 đồng tại thôn P, xã X, huyện T, mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu trên người và trên đường về thì bị Công an huyện phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,4122 gam heroine để cất giấu, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên và người bào chữa về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này; Về đề nghị của người bào chữa áp dụng khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy đang trên đường đi bị công an huyện phát hiện và chặn bắt nên đã phải lấy ra giao nộp, Bị cáo không có tình tiết nào khác để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, do đó không chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người nghiện chất ma túy, mục đích mua ma túy là để sử dụng, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly Bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục Bị cáo, đồng thời có cơ hội cho Bị cáo cai nghiện chất ma túy. [3] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nông nghiệp, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, điều kiện kinh tế không có nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [4] Về các vấn đề khác có liên quan:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án:
- Đối với số Heroine còn lại, 01 chiếc găng tay, 02 mảnh giấy nilon là vật cấm tàng trữ và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chiếc xe mô tô tại phiên tòa đã làm rõ là tài sản chung của hai vợ chồng Bị cáo, việc Bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội vợ Bị cáo không biết, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe và trả lại cho vợ Bị cáo 1/2 giá trị chiếc xe. [6] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Sùng A S phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Sùng A S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2021. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số Heroine còn lại 0,3264 gam; 01 chiếc găng tay; 02 mảnh giấy nilon.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe mô tô loại xe Win, nhãn hiệu FIGO, biển kiểm soát 27T1 - 02895, trả lại cho vợ Bị cáo là Giàng Thị Chu 1/2 giá trị chiếc xe.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/6/2021).
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Điện Biên - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện T - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện T; - Bị cáo; NBC; Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA, HSTHA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trương Anh Tuấn |