vanban.org

Bản án 23/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang Tuyên án 23/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn D phạm tội tằng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUANG BÌNH
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/HS-ST
Ngày 23 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUANG BÌNH, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Vân

Bà Hoàng Thị Huệ

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quang Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Ông Hồ Đức Tuyên - Kiểm sát viên

Bà Nguyễn Thị Phúc - Kiểm sát viên dự khuyết.

Ngày 23/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2021/TLST-HS ngày 07/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST-HS ngày 10/9/2021 đối với bị cáo:

- Đặng Văn D, sinh năm 1969, tại huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã V, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Đình Nh, sinh năm 1931 (đã chết) và bà Hoàng Thị B, sinh năm 1937 (đã chết); Vợ: Dương Thị Th, sinh năm 1969 và có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 10/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Q áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo bỏ trốn chưa chấp hành; nhân thân: Tại bản án số 29/2014/HSST ngày 7/4/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Năm 1996 bị Công an huyện B, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2021, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Q; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 08/6/2021 tại đường tỉnh lộ 183, thuộc địa phận tổ 5, thị trấn Y, huyện Q, tổ công tác Công an huyện Q bắt quả tang Vi Văn D, trú tại thôn K, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói chất bột nghi là ma túy. Vi Văn D khai nhận đó là số ma túy Vi Văn D vừa mua của một người tên D ở thôn H, xã V, huyện Q để sử dụng. Ngày 09/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn D, sinh năm 1969, trú tại thôn H, xã V, huyện Q. Kết quả khám xét phát hiện, thu giữ tại lán sau nhà của Đặng Văn D, gồm: 02 gói chất bột màu trắng dạng cục nghi ma túy, trong đó 01 gói giấy màu trắng có dòng k màu xanh, kích thước (0,9x1,8cm) bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,01gam; 01 gói nilon màu đen có kích thước (3,5x5cm), bên trong có túi nilon màu hồng, kích thước (2x3x1,2cm) chứa chất bột màu trắng dạng cục có khối lượng 3,65gam. Qua đấu tranh Đặng Văn D khai nhận vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/6/2021 Đặng Văn D đi xe mô tô từ nhà mình đến địa phận xã Y, huyện L, tỉnh Yên Bái để mua ma túy về sử dụng, khi đến địa chỉ trên D gọi điện thoại cho một người nam giới không biết tên tuổi địa chỉ để mua ma túy với số tiền 3.000.000 đồng. Người này đồng ý và hẹn D để tiền ở cạnh búi tre bên phải đường nhựa, đoạn Km19+700, cách cọc tiêu H7/19 là 1,8 mét thuộc thôn Th, xã Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, sau khi để tiền khoảng 10 phút thì D quay lại vị trí đó để lấy ma túy, D mang số ma túy này về cất giấu tại lán phía sau nhà của mình để sử dụng dần, vì D là người nghiện ma túy, không có mục đích mua bán. Đặng Văn D không thừa nhận việc đã bán ma túy cho Vi Văn D.

Tại bản kết luận giám định số 262/KL-PC 09 ngày 13/6/2021của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Chất bột màu trắng và chất bột màu trắng dạng cục thu giữ của Đặng Văn D ký hiệu từ A1, A2 gửi giám định là chất ma túy, loại ma túy Heroine, nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ, có tổng khối lượng là 3,66 gam.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Đặng Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đặng Văn D từ 3 năm 6 tháng đến 04 năm tù;

Về vật chứng và nghĩa vụ chịu án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Q trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám xét khẩn cấp, biên bản thu giữ vật chứng, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/6/2021 Đặng Văn D đi xe mô tô từ nhà mình đến Km19+700, cách cọc tiêu H7/19 là 1,8 mét thuộc thôn Th, xã Y, huyện L, tỉnh Yên Bái để mua ma túy của một người nam giới không biết tên tuổi địa chỉ với số tiền 3.000.000 đồng. D để tiền ở cạnh búi tre bên phải đường nhựa, sau khi để tiền khoảng 10 phút thì D quay lại vị trí đó để lấy ma túy, D mang số ma túy này về cất giấu tại lán phía sau nhà của mình để sử dụng dần. Ngày 09/6/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn D, bắt quả tang D đang tàng trữ trái phép trong nhà 3,66 gam ma túy loại Heroine. Do vậy hành vi trên của bị cáo D đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự của Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội, là nguyên nhân dẫn đến số người nghiện trong xã hội ngày càng gia tăng và là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nghiêm trọng khác như trộm cắp, giết người, cướp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, ma túy là chất cấm sử dụng, là chất có hại cho sức khỏe của con người, gây giảm sút về kinh tế và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của mình bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Song tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong hồ sơ còn thể hiện theo lời khai của Vi Văn D: Khoảng 22 giờ ngày 08/6/2021 Vi Văn D trú tại thôn K, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang đến mua ma túy của Đặng Văn D với số tiền 500.000 đồng. Quá trình điều tra thu thập chứng cứ Đặng Văn D khai nhận vào khoảng 22 giờ ngày 8/6/2021 khi Đặng Văn D đang nấu cám lợn ở bếp thì có Vi Văn D vào nhà Đặng Văn D và hỏi “chú ở nhà không” sau đó đi về, không có việc Đặng Văn D mua bán chất ma túy với Vi Văn D. Tiến hành đối chất giữa Vi Văn D và Đặng Văn D không có căn cứ để xác định Đặng Văn D đã bán chất ma túy cho Vi Văn D nên chưa có đủ căn cứ để kết luận Đặng Văn D là người đã bán ma túy cho Vi Văn D. Vì vậy tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về vật chứng của vụ án:

- 3,625 gam chất ma túy Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng, mặt trước có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2”; mặt sau có hai dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 phong bì màu trắng, bên trong có chứa các vỏ bao gói và các phong bì niêm phong cũ thu tại chỗ ở của Đặng Văn D;

- 01 phong bì màu trắng, bên trong chứa các “Tang vật thu giữ tại vị trí số 01 tại chỗ ở của Đặng Văn D gồm: 01 vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc có kích thước 5,5 x 3 cm, 01 mảnh giấy bạc có kích thước 7 x 5,1cm; 01 mảnh giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu vàng có kích thước 10,2 x 9 cm;

- 01 phong bì màu trắng, bên trong chứa “Bọc nilon màu xanh và đen bên trong có 01 chiếc cân điện tử;

- 01 lọ nhựa màu trắng bên ngoài được cuốn kín bằng băng dính màu đen, có nắp màu vàng, kích thước cao 10cm, chu vi 10cm;

- 01 phong bì bên trong chứa 01 chiếc lưỡi lam, 35 mảnh giấy hình vuông kích thước 4 x 4 cm, mảnh nilon màu xanh kích thước 14 x 10 cm;

- 01 phong bì, bên trong chứa “Các mảnh túi nilon không rõ hình và 06 pin tiểu rải rác trên nền nhà ở của Đặng Văn D”;

- Một chiếc ghế gỗ loại ghế đơn cao 30cm, mặt ghế rộng 33cm x 37cm, tựa lưng cao 46cm, đã qua sử dụng.

- 01 chiếc loa thùng, loại loa bằng ván ép, đã cũ

Tất cả những vật chứng trên là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Số tiền 3.610.000 đồng; 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo, màu đen, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng; 01 Chiếc ví giả da; 01 đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trịnh Định C; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy, 01 giấy phép lái xe, 01 th bảo hiểm y tế đều mang tên Đặng Văn D là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên vì vậy cần xem xét trả lại cho bị cáo D theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 09/6/2021.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 3,625 gam chất ma túy Heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng, mặt trước có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2”; mặt sau có hai dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong;

+ 01 phong bì màu trắng, bên trong có chứa các vỏ bao gói và các phong bì niêm phong cũ thu tại chỗ ở của Đặng Văn D;

+ 01 phong bì màu trắng, bên trong chứa các “Tang vật thu giữ tại vị trí số 01 tại chỗ ở của Đặng Văn D gồm: 01 vỏ bao thuốc lá thăng long màu vàng, 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc có kích thước 5,5 x 3 cm, 01 mảnh giấy bạc có kích thước 7 x 5,1cm; 01 mảnh giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu vàng có kích thước 10,2 x 9 cm;

+ 01 phong bì màu trắng, bên trong chứa “Bọc nilon màu xanh và đen bên trong có 01 chiếc cân điện tử;

+ 01 lọ nhựa màu trắng bên ngoài được cuốn kín bằng băng dính màu đen, có nắp màu vàng, kích thước cao 10cm, chu vi 10cm;

+ 01 phong bì bên trong chứa 01 chiếc lưỡi lam, 35 mảnh giấy hình vuông kích thước 4 x 4 cm, mảnh nilon màu xanh kích thước 14 x 10 cm;

+ 01 phong bì, bên trong chứa “Các mảnh túi nilon không rõ hình và 06 pin tiểu rải rác trên nền nhà ở của Đặng Văn D”;

+ Một chiếc ghế gỗ loại ghế đơn cao 30cm, mặt ghế rộng 33cm x 37cm, tựa lưng cao 46cm, đã qua sử dụng.

+ 01 chiếc loa thùng, loại loa bằng ván ép, đã cũ

- Trả lại cho bị cáo Đặng Văn D

+ Số tiền 3.610.000 đồng;

+ 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo, màu đen, màn hình cảm ứng, máy cũ đã qua sử dụng; 01 Chiếc ví giả da; 01 đăng ký mô tô, xe máy mang tên Trịnh Định C; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy, 01 giấy phép lái xe, 01 th bảo hiểm y tế đều mang tên Đặng Văn D.

Theo biên bản khám xét ngày 09/6/2021 và biên biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Hà Giang ngày 06/9/2021.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Đặng Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ, (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình thi hành án có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 7b Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ