vanban.org

Bản án 23/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 07/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đào hà G cùng đòng pham - đanh bac - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!V!
TỈNH!N!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 23/2021/HSST
Ngày 07 tháng 05 năm 2021

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!V,!TỈNH!N!

- Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm!phán!-!Chủ!toạ!phiên!toà: Ông Hà!Thiện!Thành

!!!!!!!!Các!hội!thẩm!nhân!dân: Ông Hoàng!Quốc!Trị!và ông Hà!Xuân!Ninh! !

Thư!ký!toà!án!ghi!biên!bản!phiên!toà: Bà Bùi!Hồng!Mơ!- là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Đại!diện!Viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!V,!tỉnh!N!tham!gia!phiên!toà: Ông Trịnh!Ngọc!Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 07/05/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2021/HSST ngày 26/3/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 04 năm 2021, đối với các bị cáo:

1.!Đào!Hà!G!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1984; tại xã G, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú thôn V, xã G, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Mạnh K vµ bµ Trần Thị N; có vợ Nguyễn Thị L và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2.!Đinh!Mộng!Đ!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1982; tại xã T, huyện Q, tØnh N; Nơi cư trú thôn V, xã T, huyện Q, tØnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Đăng M (đã chết) vµ bµ Nguyễn Thị S; có vợ Nguyễn Thị Thanh T và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3.!Nguyễn!Văn!N!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1983; tại xã G, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú xóm N, xã G, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T vµ bµ Đinh Thị T; có vợ Nguyễn Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 07/3/2016, của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N xử phạt 08 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4.!Đinh!Trần!P!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1982; tại xã L, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú xóm 4, xã L, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Trần D vµ bµ Trần Thị T (Đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5.!Nguyễn!Văn!T!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1977; tại xã S, huyÖn Q, tØnh N; Nơi cư trú đội 7, xã S, huyÖn Q, tØnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (Đã chết) vµ bµ Trần Thị B; có vợ Phan Thị H và có 04 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

6.!Dương!Văn!L!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1973; tại xã L, huyện Y, tØnh H; Nơi cư trú xóm Đ, xã L, huyện Y, tØnh H; lµ §¶ng viªn §¶ng céng s¶n ViÖt Nam, đã bÞ ®×nh chØ sinh ho¹t §¶ng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn S vµ bµ Bùi Thị H (Đều đã chết); có vợ Bùi Thị D và có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

7.!Nguyễn!Văn!T1!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1970; tại xã G, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú thôn Đ, xã G, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lái tàu; trình độ văn hoá: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (Đã chết) vµ bµ Phạm Thị R; có vợ Nguyễn Thị L và có 03 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

8.!Trần!Quốc!H!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1979; tại xã M, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú phố T, thị trấn M, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Mạnh T (Đã chết) vµ bµ Nguyễn Thị X; có vợ Hoàng Thị M và có 03 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 12 ngày 16/8/2007, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi "Dùng thủ đoạn tạo hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền". Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

9.!Đinh!Văn!Q!(Tên gọi khác không), sinh n¨m 1985; tại huyÖn Y, tØnh N; Nơi cư trú thôn T, xã M, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn C vµ bµ Nguyễn Thị H (Đã chết); có vợ Nguyễn Thị Hải Y và có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*!Người!có!quyền,!lợi!nghĩa!vụ!liên!quan!đến!vụ!án:!

Anh Nguyễn!Văn!T2, sinh n¨m 1974; Nơi cư trú thôn Đ, x· G, huyÖn V, tØnh N. (V¾ng mÆt).

Anh Vũ!Văn!S, sinh n¨m 1986; Nơi cư trú thôn T, x· G, huyÖn V, tØnh N. (V¾ng mÆt).

*!Người!làm!chứng:

Anh Đinh!Văn!D và anh Lã!Văn!T. Đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q, đều làm việc tại xưởng đóng tàu Xuân T, địa chỉ tại thôn Đ, xã G, huyện V. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/10/2020, sau khi ăn cơm trưa tại lán ở khu vực xưởng đóng tàu thì G, Đ, N và P đi đến cabin của chiếc tàu đang đóng để nghỉ trưa. Lúc này G nhìn thấy có 01 bộ bú lơ khơ đang để trên chiếu trải sẵn bên trong cabin, G nảy sinh ý định đánh bạc nên cầm bộ tú lơ khơ lên trộn đều, chia thành 04 phần và rủ Đ, N và P đánh bạc được thua bằng tiền. Sau đó G, Đ, N và P cùng ngồi và thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh “liêng” được thua bằng tiền, mức chơi mỗi ván thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Khoảng 05 phút sau, lần lượt T, L, T1, H và Q, đến và ngồi tham gia đánh bạc cùng. Quá trình các đối tượng đánh bạc có Vũ Văn S, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã G, huyện V vào ngồi xem. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi G, N, P, Đ, T, L, T1, H và Q đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an huyện V phối hợp công an xã G tuần tra kiểm soát trên địa bàn phát hiện, bắt quả tang. Lúc này Nguyễn Văn T1 đã cầm chiếc ví giả da màu đen bên trong có số tiền 1.700.000 đồng đưa cho Vũ Văn S cất giữ hộ.

Thu giữ tại chiếu nơi các đối tượng đánh bạc số tiền 5.260.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa, 02 ví giả da màu nâu.

Thu trong người các đối tượng: Trần Quốc H số tiền 200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu hồng; Đào Hà G số tiền 110.000 đồng; Dương Văn L số tiền 50.000 đồng và 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 1.100.000 đồng và 01 điện thoại Samsung, vỏ màu đen; Nguyễn Văn T số tiền 200.000 đồng, 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s vỏ màu vàng; Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 vỏ màu đen; Nguyễn Văn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell vỏ màu đen; Đinh Mộng Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu ACE vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo vỏ màu đen; Đinh Trần P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5, vỏ màu vàng. Ngoài ra thu của thu của anh Vũ Văn S 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 1.700.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền các đối tượng Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q sử dụng vào việc đánh bạc ngày 26/10/2020 là: 7.520.000 đồng (gồm: 5.260.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 110.000 đồng thu giữ của Đào Hà G; 1.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T1; 200.000 đồng thu giữ của Trần Quốc H; 50.000 đồng thu giữ của Dương Văn L và 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T).

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-GV ngày 25/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Đào!Hà!G,!Nguyễn!Văn!N,!Đinh!Trần!P,!Đinh!Mộng!Đ,! Nguyễn!Văn!T,!Dương!Văn!L,!Nguyễn!Văn!T1,!Trần!Quốc!H!và!Đinh!Văn!Q!ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Đánh!bạc”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. !

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T, Trần Quốc H và Đinh Văn Q phạm tội “Đánh!bạc”; Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn!Văn!N! từ 09 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ; (được trừ 02 ngày tạm giữ, bằng 06 ngày Cải tạo không giam giữ); thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ cßn l¹i lµ 08 th¸ng 24 ngày đến 11 tháng 24 ngày; thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ!đều!tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. KhÊu trõ bị cáo từ 10% đến 15% thu nhËp hµng th¸ng cña Nguyễn Văn N ®Ó sung quü Nhµ n­íc trong thêi gian chÊp hµnh ¸n. Giao bị cáo Nguyễn!Văn!N!cho Ủy ban nhân xã G, huyện V, tỉnh N và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian cải tạo. Phạt tiền bổ sung đối với Nguyễn!Văn!N!từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo!Đào!Hà!G từ 24.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; bị cáo!Đinh! Mộng! Đ từ 23.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng; bị cáo Đinh! Trần! P! từ 23.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn!Văn!T!từ 22.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng; bị cáo Dương!Văn!L!từ 22.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn! văn! T1! từ 22.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng; bị cáo Trần!Quốc!H!từ 24.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; bị cáo Đinh!Văn!Q!từ 22.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng;!

Về!xử!lý!vật!chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.520.000 đồng (gồm: 5.260.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 110.000 đồng thu giữ của Đào Hà G; 1.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T1; 200.000 đồng thu giữ của Trần Quốc H; 50.000 đồng thu giữ của Dương Văn L và 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng, thu giữ tại chiếu bạc, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ.

Trả lại bị cáo Nguyễn!Văn!T số tiền 1.000.000 đồng; bị cáo Dương!Văn!L số tiền 1.100.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút ngày 26/10/2020, tại xưởng đóng tàu Xuân T, thuộc địa phận thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh N các bị cáo Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q đã sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân đánh bài dưới hình thức đánh “Liêng” được, thua bằng tiền đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày bị Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã G phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 7.520.000!đồng.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều!321.!Tội!đánh!bạc!

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

….

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[3]. Hành vi của bị cáo Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q đã nêu trên là phạm tội "Đánh bạc", được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ. Đánh bạc đang là một tệ nạn nguy hiểm, bị gia đình, xã hội lên án, Nhà nước ta đang ra sức loại trừ. Vì đánh bạc mà nhiều gia đình bị khánh kiệt, nợ nần chồng chất, nó cũng là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều đã thành niên, có gia đình vợ con, nhưng không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà lại tham gia đánh bạc kiếm tiền bất chính. Hành vi của các bị cáo bị chính gia đình các bị cáo lên án, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý thật nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

[5]. Đối với Đào Hà G là người khởi xướng, chủ động rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, rồi cùng các bị cáo đánh bạc. Do vËy, Đào Hà G xÕp vai trß ®Çu trong vô vô ¸n. Đối với Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q ®Òu là đồng phạm, thùc hiÖn téi ph¹m mét c¸ch tÝch cùc. Do vËy, các bị cáo này lÇn l­ît xÕp vai trß sau cïng trong vô ¸n.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo Đào Hà G, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vËy, Héi ®ång xÐt xö cÇn áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[8]. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn N tõng bÞ kÕt ¸n, nh­ng ®· ®­îc ®­¬ng nhiªn xãa ¸n tÝch, nªn ®­îc coi nh­ ch­a bÞ kÕt ¸n theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Quốc H từng bị xử phạt vi phạm hành chính, đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên một năm, nên được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính.

[9]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia vào việc thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn N ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ và giao bÞ c¸o cho chÝnh quyÒn ®Þa ph­¬ng n¬i bÞ c¸o th­êng tró vµ gia ®×nh bÞ c¸o cã tr¸ch nhiÖm phèi hîp trong viÖc gi¸m s¸t, gi¸o dôc ®èi víi bÞ c¸o. Bị cáo Nguyễn Văn N bị tạm giữ 02 ngày (từ ngày 26/10/2020 đến ngày 28/10/2020) bằng 06 ngày Cải tạo không giam giữ sẽ được đối trừ vµo thêi gian c¶i t¹o cña bÞ c¸o. KhÊu trõ 10% thu nhËp hµng th¸ng theo biªn b¶n x¸c minh thu nhËp ®èi víi bÞ c¸o Nguyễn Văn N ngµy 28/10/2020, lµ 3.580.000 ®ång/th¸ng thµnh tiÒn lµ 358.000 ®ång/th¸ng, theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 36 Bé luËt H×nh sù. Phạt bổ sung thêm đối với bị cáo Nguyễn Văn N theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. §èi víi bị cáo Đào Hà G, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q không cần thiết phải cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, tuy là ít nghiêm khắc hơn, nhưng là sự trừng phạt nặng về kinh tế đối với các bị cáo này, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[10]. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên Tòa đã xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 7.520.000 đồng (gồm: 5.260.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 110.000 đồng thu giữ của Đào Hà G; 1.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T1; 200.000 đồng thu giữ của Trần Quốc H; 50.000 đồng thu giữ của Dương Văn L và 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T). Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng, thu giữ tại chiếu bạc, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ. Do vậy, cÇn tÞch thu tiªu huû.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T và số tiền 1.100.000 đồng thu giữ của Dương Văn L. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của T và L, không sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, cần trả lại cho bị cáo T và L. Tuy nhiên vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 ví giả da màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, vỏ màu đen thu giữ của Nguyễn Văn T1; 01 ví giả da màu nâu và 01 điện thoại Samsung, vỏ màu đen thu giữ của Dương Văn L; 01 ví giả da màu nâu và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, vỏ màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn T; 01 ví giả da màu nâu, 01 điện thoại di động nhãn hiệu ACE, vỏ màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, vỏ màu đen thu giữ của Đinh Mộng Đ; 01 ví giả da màu nâu và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5, vỏ màu vàng thu giữ của Đinh Trần P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu hồng thu giữ của Trần Quốc H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, vỏ màu đen thu giữ của Nguyễn Văn N. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại các tài sản trên cho T1, L, T, Đ, P, H và N là phù hợp.

Đối với anh Vũ Văn S là người đã cầm hộ chiếc ví bên trong có số tiền 1.700.000 đồng của Nguyễn Văn T1, bản thân S không biết T sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh Sỹ.

Đối với anh Nguyễn Văn T2, Là chủ xưởng đóng tàu Xuân T. Ngày 26/10/2020 anh T đi công tác tại tỉnh T, không có mặt ở xưởng đóng tàu, không biết các đối tượng sử dụng cabin của con tàu đang đóng để đánh bạc. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh T.

[11]. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12]. VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: BÞ c¸o, ng­êi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan cã quyÒn kh¸ng c¸o theo luËt ®Þnh.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT!ĐỊNH!

!

1. Tuyên!bố:!Bị cáo Đào!Hà!G,!Nguyễn!Văn!N,!Đinh!Trần!P,!Đinh!Mộng! Đ,!Nguyễn!Văn!T,!Dương!Văn!L,!Nguyễn!Văn!T1,!Trần!Quốc!H!và!Đinh!Văn!Q phạm tội "§¸nh b¹c”.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn!Văn!N 09 (Chín) tháng Cải tạo không giam giữ; (được trừ 02 ngày tạm giữ, bằng 06 ngày Cải tạo không giam giữ); thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ cßn l¹i lµ 08 (Tám) th¸ng 24 (Hai mươi bốn) ngày; thêi gian chÊp hµnh h×nh ph¹t C¶i t¹o kh«ng giam gi÷ tÝnh tõ ngµy ñy ban nh©n d©n xã G, huyÖn V, tØnh N nhËn ®­îc b¶n sao b¶n ¸n vµ quyÕt ®Þnh Thi hµnh ¸n. KhÊu trõ 10% thu nhËp trong 09 (Chín) th¸ng, mçi th¸ng lµ 358.000 ®ång/th¸ng. Phạt tiền bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn!Văn!N cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời giam cải tạo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo!Đào!Hà!G 24.000.000 (Hai mươi bốn triÖu) ®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Đinh!Mộng!Đ 23.000.000 (Hai mươi ba triÖu)®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Đinh!Trần!P 23.000.000 (Hai mươi ba triÖu)®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Nguyễn!Văn!T1 23.000.000 (Hai mươi trải triÖu)®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Trần!Quốc!H 23.000.000 (Hai mươi ba triÖu)®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Nguyễn!Văn!T 22.000.000 (Hai mươi hai triÖu)®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Dương!Văn!L 22.000.000 (Hai mươi hai triÖu)®ång.

+ Xử phạt bị cáo!Đinh!Văn!Q 22.000.000 (Hai mươi hai triÖu)®ång.

2.!Biện!pháp!tư!pháp!và!xử!lý!vật!chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.520.000 đồng (gồm: 5.260.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc; 110.000 đồng thu giữ của Đào Hà G; 1.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T1; 200.000 đồng thu giữ của Trần Quốc H; 50.000 đồng thu giữ của Dương Văn L và 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng, thu giữ tại chiếu bạc, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ.

Trả lại bị cáo Nguyễn!Văn!T số tiền 1.000.000 đồng; bị cáo Dương!Văn!L số tiền 1.100.000 đồng, là số tiền không liên quan đến việc phạm tội, nhưng vẫn tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Số tiền tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước và số tiền trả lại cho bị cáo gửi tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn. Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/03/2021, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về!án!phí:!Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Đào Hà G, Nguyễn Văn N, Đinh Trần P, Đinh Mộng Đ, Nguyễn Văn T, Dương Văn L, Nguyễn Văn T1, Trần Quốc H và Đinh Văn Q mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn)đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. !

N¬i!nhËn:

Cỡ chữ