- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tộ i danh : Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L, Đàm Quang L, Khương Văn D, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Vũ Văn H phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HSST Ngày 30/6/2021 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Nam và bà Lý Thị Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Hằng - Kiểm sát viên.
Trong cá c ngày 29, 30 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2021/TLST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2021/QĐST- HS ngà y 10/6/2021 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn T, sinh năm 1974; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, chỗ ở hiện nay: Tổ 2B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Đồng Thị N; vợ: Hoàng Thị Thanh T; con có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Lý Văn V, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn V và con bà Hoàng Thị D; vợ: Chu Thị T; con: 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 14/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/11/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Nông Văn Đ, sinh năm 1976. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn K và con bà Nguyễn Thị N; vợ: Nông Thị T; con: 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Quan Thanh T, sinh năm 1985. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quan Thanh C và con bà Ma Thị D; vợ: Triệu Thị N; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5. Đàm Quang L, sinh năm 1979. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Chỗ ở hiện nay: Tổ 3, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Công nhân bảo vệ; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đàm Văn P và con bà Nông Thị H; vợ: Hoàng Thị L; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 14/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
6. Khƣơng Văn D, sinh năm 1987. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khương Văn V và con bà Hoàng Thị Đ; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 14/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
7. Triệu Tài N, sinh năm 1991. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Tiến N (đã chết) và con bà Phạm Thị V; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/8/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản” theo bản án số 17/2010/HSST đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 14/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
8. Trịnh Xuân Đ, sinh năm 1993. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Xuân P và con bà Đào Thị T (đã chết); vợ: Vũ Thị L; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/6/2015 bị Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi “Xâm hạ i đế n sứ c khỏ e ngườ i khá c ” theo quyế t đị nh số 138/QĐ- XPKLBB, ngày 15/3/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 63/2012/HSST đến nay đã được xóa án tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
9. Vũ Văn H, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và con bà Sằm Thị N; vợ: Chưa có; con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
10. Đặng Văn L, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Pụ S và con bà Đặng Thị C; vợ: Phùng Thị D; con: 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giữ từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020 thì được hủy bỏ, chuyể n áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Trị nh Xuân Đ : Ông Hà Văn T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị L, sinh năm 1996, trú tại: Thôn H, xã B, huyệ n C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
2. Chị Chu Thị T , sinh năm 1986, trú tại: Thôn N, xã L, huyệ n C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặ t (có đơn xin vắng mặt).
3. Chị Hoàng Thị L , sinh năm 1980, trú tại: Tổ 3, thị trấn B, huyệ n C, tỉnh Bắ c Kạ n. Vắ ng mặ t (có đơn xin vắng mặt).
4. Chị Phùng Thị D, sinh năm 1997, trú tại: Thôn P, xã B, huyệ n C, tỉnh Bắc Kạn. Vắ ng mặ t (có đơn xin vắng mặt).
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Đăng T – sinh năm 1976. Trú tại: Tổ 3, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 01 giờ 45 phút ngày 13/11/2020 tại nhà ở của Phạm Văn T thuộ c thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn phát hiện bắt quả tang Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Trịnh Xuân Đ, Vũ Văn H và Đặng Văn L đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh vàng, 01 (một) bát sứ, 01 (một) đĩa sứ, 04 (bốn) quân vị và số tiền 8.700.000 đồng tại chiếu bạc. Ngoài ra thu giữ trên người Trịnh Xuân Đ số tiền 600.000 đồ ng, Đặng Văn L bị thu giữ số tiền 4.500.000 đồ ng, Nông Văn Đ bị thu giữ số tiền 7.500.000 đồ ng, Vũ Văn H bị thu giữ số tiền 7.500.000 đồ ng, 07 chiếc điện thoại di động, 08 chiếc xe mô tô và 01 ví da.
Hồi 04 giờ 45 phút ngày 13/11/2020, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở và công trình phụ cận đối với Phạm Văn T tại thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Qua khám xét thu giữ 01 chiếc kéo, 01 chiếc ví da bên trong có 27.000.000 đồ ng và một số giấy tờ, tài liệu.
Đến ngày 14/11/2020, có Đàm Quang L, Khương Văn D, Lý Văn V, Triệu Tài N đến trình diện và đầu thú thừa nhận được tham gia đánh bạc tại nhà ở của Phạm Văn T vào tối ngày 12/11/2020 rạng sáng ngày 13/11/2020.
Quá trình điều tra, truy tố xác định được: Khoảng 21 giờ ngày 12/11/2020 Phạm Văn T đang ở nhà thuộ c thôn P , xã B thì có Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T cùng Đàm Quang L và Khương Văn D và Nguyễn Đăng T đến chơi. Đến khoảng 21 giờ 30 phút thì T, V, Đ, T, L, D rủ nhau đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa, khi nghe mọi người rủ nhau đánh bạc Lý Văn V lấy kéo ở nhà T cắt vỏ bao thuốc lá Thăng Long để ở bàn uống nước thành 04 (bốn) mảnh hình tròn làm quân vị có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, còn Quan Thanh T xuống bếp lấy chiếu ở sát vách bếp nhà T rải ra nền bếp, còn Nguyễn Đăng T khi nghe mọi người nhờ lấy hộ bát, đĩa thì T đi đến vị trí chạn bát ở trong bếp để lấy bát đĩa ra, T bật đèn soi thấy bát đĩa bị bẩn nên đã đặt bát, đĩa để lại chạn bát không đem ra cho mọ i ngườ i đá nh bạ c . Sau đó T đi chăn gà, đến khi quay lại thì nghe thấy T nói bát đĩa bẩn và không lấy hộ thì T đi đến chạn bát lấy một chiếc đĩa và một chiếc bát đặt xuống chiếu để mọi người đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ sau khi chuẩn bị chiếu, bát đĩa, quân vị xong T,V, Đ, T, L, D ngồi đánh bạc, V là người xóc đĩa, riêng T ngồi ở ngoài xem mọi người đánh bạc. Khi những người trên đang đánh bạc thì có thêm Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ và Vũ Văn H lần lượt đến cùng tham gia đánh bạc.
Trong quá trình đánh bạc T được Lý Văn V đưa cho số tiền 700.000 đồ ng gồm có tiền của V, T, Đ, L, D, N, H góp mỗi người 100.000 đồ ng để trả tiền điện, nước uống. T đã dùng số tiền củ a V đưa để đánh bạc cùng mọi người và bị thua hết nên T lên giường đi ngủ và L cũng thua hết tiền rồi cũng lên giường nhà T ngủ, còn Khương Văn D đánh bạc được một lúc sau cũng đi về nhà. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 13/11/2021, khi mọi người đang đánh bạc thì Đặng Văn L đi đến nhà T và mang theo số tiền 4.700.000 đồ ng vào tham gia đánh bạc và đã bỏ ra số tiền 200.000 đồ ng để đánh bạc. Đối với số tiền còn lại 4.500.000 đồ ng L cất giữ trên người và sẽ dùng vào việc đánh bạc nế u thua h ết số tiền 200.000 đồ ng đã bỏ ra trướ c đó . Đến 01 giờ 45 phút ngày 13/11/2020, khi các đối tượng Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Trịnh Xuân Đ, Vũ Văn H và Đặng Văn L, Lý Văn V, Triệ u Tà i N đang đánh bạc tại nhà ở của Phạm Văn T thì bị phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật. Riêng Lý Văn V, Triệ u Tà i N khi bắ t quả tang thì bỏ chạ y.
Cách thức thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền Việt Nam đồng của các đối tượng là: Dùng 01 (một) bát sứ, 01 (một) đĩa sứ úp lại với nhau, sau đó Lý Văn V cho 04 (bốn) quân vị vào trong đĩa và xóc cái để mọi người cùng chơi, tất cả những người chơi đều được mở bát. Khi mở bát nếu 04 quân vị mà có 02 mặt đen, 02 mặt trắng hoặc 04 mặt trắng, 04 mặt đen thì là Chẵn; Nếu 01 mặt trắng, 03 mặt đen hoặc 01 mặt đen, 03 mặt trắng thì là Lẻ. Nếu người chơi đặt chẵn khi mở bát ra là chẵn thì người chơi thắng và được số tiền bằng số tiền người chơi đặt ra chơi và ngược lại nếu mở ra là lẻ thì người chơi thua và mất số tiền đã đặt để đánh bạc, tỷ lệ thắng thua là 1/1 trên số tiề n đặ t , số tiề n đặ t củ a mỗ i ngườ i trong mộ t vá n bạ c tố i thiể u là 50.000 đồ ng, không quy đị nh số tiề n đặ t tố i đa . Phạm Văn T sử dụng 700.000 đồ ng để đá nh bạ c, Lý Văn V sử dụng 800.000 đồ ng để đá nh bạ c , Quan Thanh T sử dụ ng 1.500.000 đồ ng để đá nh bạc, Nông Văn Đ sử dụ ng 1.000.000 đồ ng để đá nh bạ c ; Đàm Quang L sử dụ ng 900.000 đồ ng để đá nh bạ c , Triệu Tài N sử dụ ng 150.000 đồ ng để đá nh bạ c, Trịnh Xuân Đ sử dụ ng 500.000 đồ ng để đá nh bạ c, Khương Văn D sử dụ ng 150.000 đồ ng để đánh bạc, Vũ Văn H sử dụ ng 100.000 đồ ng để đá nh bạ c , Đặng Văn L sử dụng 4.700.000 đồ ng để đá nh bạ c . Trong quá trì nh đá nh bạ c Lý Văn V, Đàm Quang L, Triệu Tài N, Vũ Văn H thay nhau xóc đĩa.
Về vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án gồm:
- 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh vàng; 01 chiếc bát sứ màu trắng; 01(một) chiếc đĩa sứ; 04 (bốn) quân vị hình tròn; 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại;
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 vỏ màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng trắng đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng bàn phím, vỏ màu xanh.
- 01 (một) chiếc ví màu đen, bên trong có chứa: 01 (một) thẻ ATM số: 9704180131166670 tên Đặng Văn L do Ngân hàng Bidv phát hành; 01 (một) thẻ ATM số: 9704490420306105 tên Đặng Văn L do Ngân hàng LienVietpostbank phát hành; 01 (một) chứng minh nhân dân số: 095231021 mang tên Đặng Văn L.
- 01 (một) chiếc ví màu đen bên trong có chứa: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 095027141 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số: 060025000043 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số: 0002219 mang tên Phạm Xuân C, đăng ký của chiếc xe biển kiểm soát: 97F2 – 3422.
- 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-774.20, nhãn hiệu Honda Wave RSX; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-861.05, nhãn hiệu Honda Blade; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-857.95, nhãn hiệu Honda Wave Alpha; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-999.93, nhãn hiệu Honda Wave RSX; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97F3-6041, nhãn hiệu WIN; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-31843, nhãn hiệu Yamaha Sirius; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97F4-8620, nhãn hiệu Honda Wave Alpha; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-98504, nhãn hiệu Yamaha Exciter;
- 01 (mộ t) chiế c hộ p giấ y, bên ngoà i có chũ GEZO, chiế c hộ p đượ c dá n bằ ng giấ y niêm phong có chữ ký xá c nhậ n và đó ng dấ u đỏ củ a cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Chợ Đồ n;
- 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu K1 (bên trong có chứa 06 phong bì đựng tiền ký hiệu từ A1 đến A6) với tổng số tiền là 55.800.000đ (Năm mươi năm triệu tám trăm nghìn đồng) trên mặt niêm phong có 03 chữ ký và ba dấu tròn màu đỏ của kho bạc Nhà nước huyện Chợ Đồn.
Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSCĐ ngày 14/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Chợ Đồ n đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L, Đàm Quang L, Khương Văn D, Nông Văn Đ, Quan Thanh T và Vũ Văn H về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố :
* Về tộ i danh: Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L, Đàm Quang L, Khương Văn D, Nông Văn Đ, Quan Thanh T và Vũ Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
* Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điề u 17, Điề u 35; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch từ 18 đến 24 tháng. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T từ10.000.000 đồ ng đế n15.000.000 đồ ng.
- Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 17, Điề u 35; Điề u 58; Điề u 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Lý Văn V, Quan Thanh T mỗ i bị cá o từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thách từ18 đến 24 tháng. Phạt bổ sung các bị cáo Lý Văn V, Quan Thanh T mỗ i bị cá o từ 10.000.000 đồ ng đế n15.000.000 đồ ng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch từ 18 đến 24 tháng. Miễ n hì nh phạ t bổ sung đố i vớ i bị cá o Đặ ng Văn L do thuộ c hộ nghè o.
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 17; Điề u 35; Điề u 58; Điề u 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Đàm Quang L, Vũ Văn H mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch từ 12 đến 18 tháng. Phạt bổ sung các bị cáoĐàm Quang L, Vũ Văn H mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồ ng đế n 15.000.000 đồ ng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Khương Văn D từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch từ 12 đến 18 tháng. Miễ n hì nh phạ t bổ sung đố i vớ i bị cáo Khương Văn D do thuộc hộ cận nghèo.
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điề u 17, Điề u 35; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Phạt bổ sung bị cáo Nông Văn Đ từ 10.000.000 đồ ng đế n 15.000.000 đồ ng.
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 17; Điề u 35; Điề u 38; Điề u 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Tài N từ 09 đến 12 tháng tù, đượ c trừ thờ i hạ n tạ m giữ08 ngày (từ ngà y14/11/2020 đến ngày22/11/2020). Phạt bổ sung bị cáoTriệu Tài N từ 10.000.000 đồ ng đế n 15.000.000 đồ ng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điề u 17; Điề u 38; Điề u 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Đ từ 09 đến 12 tháng tù, đượ c trừ thờ i hạ n tạ m giữ 09 ngày (từ ngà y 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020). Miễ n hì nh phạ t bổ sung đố i vớ i bị cá o Trịnh Xuân Đ do thuộ c hộ nghè o.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điề u 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh vàng, 01 chiếc bát sứ màu trắng, 01(một) chiếc đĩa sứ, 04 (bốn) quân vị hình tròn, 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại là các công cụ sử dụ ng và o việ c phạm tội không có giá trị.
- Tịch thu nộ p ngân sá ch nhà nướ c số tiề n 14.300.000 đồ ng dùng vào việc phạm tội, trong đó : Có 8.700.000 đồ ng thu trên chiế u bạ c, 4.500.000 đồ ng thu trên ngườ i Đặ ng Văn L , 600.000 đồ ng thu trên ngườ i củ a Trị nh Xuân Đ và 500.000 đồ ng thu trên ngườ i của Nông Văn Đ.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T số tiề n 27.000.000 đồ ng, trả lại bị cáo Nông Văn Đ số tiề n 7.000.000 đồ ng, trả lại bị cáo Vũ Văn H số tiề n 7.500.00 đồ ng tấ t cả đều không liên quan đến việ c phạ m tộ i. Tuy nhiên, cầ n tạ m giữ số tiề n nà y củ a cá c bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T các loại tài s ản không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng bàn phím, vỏ màu xanh, 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97F4-8620, nhãn hiệu Honda Wave Alpha; 01 (một) chiếc ví màu đen bên trong có chứa: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 095027141 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số: 060025000043 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số: 0002219 mang tên Phạm Xuân C, đăng ký của chiếc xe biển kiểm soát: 97F2 – 3422.
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn V 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-857.95, nhãn hiệu Honda Wave Alpha không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i . Tuy nhiên cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n cho bị cá o V.
- Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh đã qua sử dụng nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bảo thi hành án cho bị cáo Đ.
- Trả lại cho bị cáo Quan Thanh T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.
- Trả lại cho bị cáo Đà m Quang L 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-861.05, nhãn hiệu Honda Blade không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nhưng cầ n tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo L.
- Trả lại cho bị cáo Triệ u Tà i N 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-985.04, nhãn hiệu Yamaha Exciter không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n cho bị cá o N.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-31843, nhãn hiệu Yamaha Sirius tấ t cả đề u không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Văn L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-774.20, nhãn hiệu Honda Wave RSX; 01 (một) chiếc ví màu đen, bên trong có chứa: 01 (một) thẻ ATM số: 9704180131166670 tên Đặng Văn L do Ngân hàng BIDV phát hành; 01 (một) thẻ ATM số: 9704490420306105 tên Đặng Văn L do Ngân hàng LienVietpostbank phát hành; 01 (một) chứng minh nhân dân số: 095231021 mang tên Đặng Văn L tấ t cả đề u không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i.
- Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đã qua sử dụng, 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng đề u không liên quan đế n hà nh vi phạm tội.
- Trả lại cho chị Vũ Thị L 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-999.93, nhãn hiệu Honda Wave RSX không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i.
- Trả lại cho bị cáo Khương Văn D 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97F3-6041, nhãn hiệu WIN không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i.
* Về án phí: Áp dụng Điều135; Điều 136 Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sư; Nghị quyết sộ́ 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hộiquy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Đàm Quang L, Nông Văn Đ, Quan Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đị nh. Miễ n á n phí hình sự sơ thẩmcho các bị cáoVũ Văn H, Đặng Văn L, Khương Văn D, Triệ u Tà i N, Trịnh Xuân Đ.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Trị nh Xuân Đ nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung và án phí đố i vớ i bị cá o Đ . Về hình phạt chính người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xé t á p dụ ng Nghị quyết số : 02/2018/NQ- HĐTP ngà y 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tố i cao về việ c Hướ ng dẫ n á p dụ ng Điề u 65 của Bộ luật hình sự về án treo để cho bị cáo Đ được hưởng án treo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan chị Chu Thị L đề nghị đượ c trả lạ i 01 xe mô tô BKS 97B1- 999.93 do chị là chủ sở hữ u đang bị tạ m giữ trong vụ á n.
Tại phiên toà các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố . Các bị cáo nói đều lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Riêng cá c bị cá o Trị nh Xuân Đ , Triệ u Tà i N xin đượ c hưở ng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng và ngườ i tiế n hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo là phù hợ p vớ i nhau, phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra , biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ , tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hộ i đồ ng xé t xử có đủ căn cứ xá c đị nh: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút ngày 12/11/2020 đến 01 giờ 45 phút ngày 13/11/2020 tại nhà ở của Phạm Văn T thuộ c t hôn P, xã B, huyệ n C, tỉnh Bắc Kạn, các bị cáo Phạm Văn T, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L, Đàm Quang L, Khương Văn D, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Vũ Văn H, Lý Văn V đã thự c hiệ n hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa đượ c thua b ằng tiền. Số tiề n thu giữ tại chiếu bạc là 8.700.000 đồ ng, thu giữ trên ngườ i cá c bị cá o 5.600.000 đồ ng dùng để đánh bạc. Tổ ng số tiề n các bị cáo dù ng để đá nh bạ c là 14.300.000 đồ ng. Trong đó xá c đị nh các bị cáo Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Vũ Văn H, Đăng Văn L có hà nh vi đánh bạc trái phép và chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền là 14.300.000 đồ ng. Còn các bị cáo Phạm Văn T, Đàm Quang L và Khương Văn D khi dừ ng việ c đá nh bạ c thì bị cá o Đặ ng Văn L chưa đế n tham gia đá nh bạ c nên không phả i chị u trá ch nhiệ m hì nh sự đố i vớ i số tiề n 4.700.000 đồ ng củ a bị cá o L dùng vào việc đánh bạc. Như vậ y xá c đị nh cá c bị cá o T, L, D đánh bạc trái phép và chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 9.600.000 đồ ng.
Hành vi của các bị cáo cấ u thà nh tộ i “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Đồn truy tố các bị cáo là có căn cứ, đú ng phá p luậ t.
Xét tính chất, mứ c độ hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạ m đế n trậ t tự quả n lý công cộ n g, gây mất an ninh, trật tự tại đ ịa phương. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực hành vi, có đủ khả năng nhận thức đượ c hà nh vi củ a mì nh thự c hiệ n là vi phạ m phá p luậ t . Vì vậy cần có hình phạt tương xứ ng vớ i hà nh vi của từ ng bị cá o thự c hiệ n nhằm giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về vai trò cá c bị cá o trong vụ á n : Đây là vụ án đồ ng phạ m giản đơn , các bị cáo đề u là ngườ i thự c hà nh cùng nhau thực hiện h ành vi phạm tộ i, tuy nhiên mứ c độ tham gia củ a từ ng bị cá o khá c nhau.
Bị cáo Phạ m Văn T là chủ nhà có hành vi cho đánh bạc tại nhà ở do mình
quản lý, có hưởng lợi bằ ng việ c thu tiề n hồ của các con bạc khác, trự c tiế p chuẩ n bị công cụ phạ m tộ i (chuẩn bị bát , đĩ a để đá nh bạ c ) và trực tiếp tham gia đá nh bạ c . Do đó xác định bị cáo có vai trò chính trong vụ án.
Bị cáo Lý Văn V, Quan Thanh T đều trực tiếp chuẩn bị công cụ phạ m tộ i (Bị cáo V cắt quân vị , bị cáo T dải chiế u để đá nh bạ c ) và đều được trự c tiế p xóc cái, cùng tham gia đá nh bạ c từ đầ u cho đến khi bị bắt quả tang . Do đó xá c đị nh hai bị cáo V và T giữ vai trò xế p thứ hai trong vụ á n.
Bị cáo Đặng Văn L có số tiền dùng vào việ c đá nh bạ c lớ n nhấ t trong cá c bị cáo tham gia đánh bạc nên xác định bị cáo có vai trò xếp thứ 3 trong vụ á n.
Các bị cáo Nông Văn Đ, Đàm Quang L, Trịnh Xuân Đ, Triệ u Tà i N, Khương Văn D, Vũ Văn H đều trực tiếp tham gia đánh bạc và có số tiền dùng vào việc đánh bạc ít hơn bị cá o Đặ ng Văn L nên xác định vai trò đồ ng phạ m là ngang nhau và thấ p nhấ t trong vụ á n.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trá ch nhiệ m hì nh sự : Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Đàm Quang L, Khương Văn D, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Vũ Văn H, Đăng Văn L đề u không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trì nh điề u tra và tạ i phiên tò a tấ t cả các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Đàm Quang L, Khương Văn D, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Vũ Văn H, Đặng Văn L đều thành khẩn khai báo, ăn năn hố i cả i nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Đàm Quang L, Khương Văn D, Vũ Văn H, Đăng Văn L đều phạm tội lầ n đầ u, thuộ c trườ ng hợ p ít nghiêm trọng nên đều đượ c hưở ng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Lý Văn V, Triệ u Tà i N , Đàm Quang L và Khương Văn D đều không bị bắ t giữ tạ i xớ i bạ c vào đêm 13/11/2020 nhưng đến ngày 14/11/2020 đã tự nguyệ n ra trì nh diệ n tại Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trình báo về hà nh vi đá nh bạ c cù ng cá c bị cá o khá c tại nhà Phạm Văn T nên các bị cáo đều được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là “Đầu thú” quy đị nh tạ i khoả n 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Trịnh Xuân Đ có ông nội đượ c tặ ng Huân chương khá ng chiế n , bị cáo Quan Thanh T có bố đẻ đượ c tặ ng Huân chương khá ng chiế n , Vũ Văn H có ông nộ i đượ c tặ ng Huân chương khá ng chiế n nên đề u được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân củ a cá c bị cá o Ph ạm Văn T, Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Đàm Quang L, Khương Văn D, Vũ Văn H, Đăng Văn L đề u chưa có tiề n án, tiề n sự .
Bị cáo Triệ u Tà i N trướ c khi phạ m tộ i nà y đã từ ng bị kế t á n và đã đượ c xó a á n tích, bị cáo Trịnh Xuân Đ trướ c khi phạ m tộ i đã bị kế t á n đã đượ c xó a á n tí ch và bị xử phạ t vi phạ m hà nh chí nh đ ã đượ c xó a tiề n sự . Do đó xác định các bị cáo N , Đ đều có nhân thân xấu.
Về hì nh phạ t:
- Hình phạt chính: Từ nhữ ng nhậ n đị nh trên Hội đồng xét xử xét thấy c ác bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Đàm Quang L, Khương Văn D, Vũ Văn H, Đặng Văn L đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoả n 1 Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự , có nơi cư trú rõ ràng nên không cần th iế t phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luậ t hì nh sự cho cá c bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo việc giáo dục , cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Giao cá c bị cá o cho chí nh quy ền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục.
Đối với các bị cáo Triệu Tài N đã từ ng chấ p hà nh á n treo về tộ i “trộ m cắ p tài sản”, bị cáo Trịnh Xuân Đ đã từ ng chấ p hà nh á n về tộ i “Cướp giật tài sản” và chấ p hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Xâm hạ i đế n sứ c khỏ e củ a ngườ i khá c ” nhưng vẫ n tiế p tụ c thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i mớ i , thể hiệ n ý thứ c coi thườ ng phá p luậ t , cầ n phả i áp dụng hình phạt cách ly khỏ i xã hộ i mộ t thờ i gian tương xứ ng vớ i tí nh chấ t , hành vi phạm tội của các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mớ i có tá c dụ ng răn đe, giáo dục các bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung . Không chấ p nhậ n đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Trịnh Xuân Đ được hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy đị nh tạ i khoản 3 Điề u 321 Bộ luậ t hì nh sự , thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do vậ y cầ n xử phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i cá c bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Đàm Quang L, Nông Văn Đ, Quan Thanh T. Tuy nhiên mứ c hì nh phạ t bổ sung đượ c xem xé t theotính chất, mứ c độ hà nh vi và vai trò của từ ng bị cáo trong vụ án, cụ thể: Bị cáo Phạm Văn T cần áp dụng mức hình phạt bổ sung cao nhấ t, tiế p đế n là bị cá o Lý Văn V, Quan Thanh T, mứ c thấ p nhấ t là các bị cáo Đàm Quang L, Nông Văn Đ. Các bị cáo Trịnh Xuân Đ, Đăng Văn L thuộ c hộ nghèo, các bị cáo Vũ Văn H và Triệu Tài N có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và đề u là ngườ i dân tộ c thiể u số số ng trong vù ng kinh tế đặ c biệ t khó khăn, bị cáo Khương Văn D thuộ c hộ cậ n nghèo nên đề u miễ n hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với hành vi sử dụ ng đị a điể m thuộ c quyề n quả n lý củ a mì nh để cho đá nh bạ c củ a bị cá o Phạ m Văn T trong vụ á n , qua cá c tà i liệ u , chứ ng cứ đượ c thu thậ p có trong hồ sơ và lờ i khai củ a cá c bị cá o tạ i phiên tò a thấ y rằ ng : Trướ c khi Đặng Văn L đến nhà tham gia đánh bạc thì T đã dừ ng việ c đá nh bạ c để đi ngủ , T không hay biết cũng không đượ c rủ rê, lôi ké o L đế n nhà đá nh bạ c và cũng không được hưởng lợi từ L. Do đó , xác định T sử dụ ng đị a điể m thuộ c quyề n quả n lý củ a mình để cho 09 ngườ i đá nh bạ c, hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đá nh bạ c hoặc gá bạc theo quy định tại Điều 322 của Bộ luật hình sự. Cơ quan điề u tra không xem xé t xử lý bị cá o T về tộ i tổ chức đá nh bạ c hoặc gá bạc là có căn cứ.
Trong vụ á n nà y cò n có Nguyễn Đăng T là người có mặt tại nhà Ph ạm Văn T tạ i thờ i điể m cá c bị cá o đánh b ạc. Qua điều tra xác đị nh đượ c T không tham gia đánh bạc và không liên quan đế n hà nh vi đá nh bạ c củ a cá c bị cá o . Do đó , Cơ quan điề u tra không có căn cứ để xem xét xử lý anh T là có cơ sở .
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh vàng trắ ng đã cũ rá ch, 01 chiếc bát sứ màu trắng, 01(một) chiếc đĩa sứ có hoạ tiết bông hoa màu đỏ, 04 (bốn) quân vị hình tròn và 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại đề u là các công cụ sử dụ ng và o việ c phạm tội không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng bàn phím, vỏ màu xanh; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97F4-8620; 01 (một) chiếc ví màu đen bên trong có chứa: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 095027141 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số: 060025000043 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số: 0002219 mang tên Phạm Xuân C, đăng ký của chiếc xe biển kiểm soát: 97F2 – 3422 tấ t cả đề u thuộ c quyề n quản lý, sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Phạ m Văn T, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lạ i cho bị cá o T.
- Đối với 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-857.95 thuộ c quyề n sở hữ u hợ p pháp của bị cáo Lý Văn V không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lại cho bị cá o V nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim viettel số thuê bao 0965.480.929 thuộ c quyề n quản lý , sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Nông Văn Đ không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lạ i cho bị cá o Đ nhưng cầ n tạ m giữ để đảm bảo việc thi hành án.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng thuộ c quyề n sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Quan Thanh T , không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lạ i cho bị cá o T nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hành án.
- Đối với 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1- 861.05 thuộ c quyề n sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Đàm Quang L, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lại cho bị cáo L nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97F3- 6041 thuộ c quyề n sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Khương Văn D, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lại cho bị cáo D.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0964857681 thuộ c quyề n quản lý, sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Trịnh Xuân Đ không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lạ i cho bị cá o Đ.
- Đối 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-999.93 thu giữ củ a bị cá o Trịnh Xuân Đ, quá trình điều tra xá c đị nh, xe thuộc quyề n sở hữu hợp pháp của chị Vũ Thị L (vợ củ a bị cá o Trị nh Xuân Đ ), tuy nhiên chị L không biết việ c bị cáo Đ sử dụng xe đi đến nhà bị cáo T để đánh bạc và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cầ n trả lại xe mô tô cho chị L.
- Đối với 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1- 98504 thuộ c quyề n sở hữ u hợ p phá p của bị cáo Triệu Tài N, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lại cho bị cá o N.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, đã qua sử dụng; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-31843 đều thuộ c quyề n quản lý, sở hữ u hợ p phá p củ a bị cá o Vũ Văn H, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lại cho bị cáo H.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng; 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-774.20; 01 (một) chiếc ví màu đen, bên trong có chứa: 01 (một) thẻ ATM số: 9704180131166670 tên Đặng Văn L do Ngân hàng Bidv phát hành; 01 (một) thẻ ATM số: 9704490420306105 tên Đặng Văn L do Ngân hàng LienVietpostbank phát hành; 01 (một) chứng minh nhân dân số: 095231021 mang tên Đặng Văn L tấ t cả thuộ c quyề n quả n lý , sở hữ u hợ p phá p của bị cáo Đặng Văn L không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i nên trả lại cho bị cáo L.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
- Đối với tổ ng số tiề n tạm giữ trong vụ án là 55.800.000 đồng (Năm mươi năm triệu tám trăm nghìn đồng) chứ a trong 06 phong bì ký hiệu từ A1 đến A6) đượ c niêm phong trong 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu K1, trong đó : Có số tiề n dùng vào việc phạm tộ i là 14.300.000 đồ ng (8.700.000 đồ ng thu trên chiế u bạc, 4.500.000 đồ ng thu trên ngườ i Đặ ng Văn L , 600.000 đồ ng thu trên ngườ i củ a Trịnh Xuân Đ , 500.000 đồ ng thu trên ngườ i củ a Nông Văn Đ ) cầ n tịch thu nộp ngân sá ch nhà nước. Số tiề n cò n lạ i thu giữ củ a bị cáo Phạm Văn T là 27.000.000 đồ ng, của bị cáo Nông Văn Đ là 7.000.000 đồ ng, bị cáo Vũ Văn H là 7.500.000 đồ ng đều không liên quan đế n việ c phạ m tộ i nên trả lạ i cho cá c bị cá o
T, Đ, H nhưng cầ n tạm giữ số tiề n củ a cá c bị cá o T, Đ để đả m bả o thi hà nh á n.
Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Đàm Quang L, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩ m theo quy định của pháp luật. Các bị cáo Đặng Văn L, Trịnh Xuân Đ, Khương Văn D thuộ c hộ nghè o, các bị cáo Triệu Tài N, Vũ Văn H số ng tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn có đơn xin miễ n á n phí nên đều đượ c miễ n á n phí hì nh sự sơ thẩ m.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tộ i danh : Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Triệu Tài N, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L, Đàm Quang L, Khương Văn D, Nông Văn Đ, Quan Thanh T, Vũ Văn H phạm tội "Đánh bạc".
2. Về điề u luậ t á p dụ ng và hì nh phạ t:
2.1. Hình phạt chính:
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạ t b ị cáo Phạm Văn T 15 tháng tù, cho hưở ng án treo. Thờ i gian thử thá ch là 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạt bị cáo Lý Văn V 12 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lý Văn V cho Ủy ban nhân dân xã L , huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạt bị cáo Quan Thanh T 12 tháng tù, cho hưở ng á n treo . Thờ i gian thử thá ch là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm . Giao bị cáo Quan Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạ t bị cá o Nông Văn Đ 09 tháng tù, cho hưở ng án treo. Thờ i gian thử thá ch là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nông Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạ t bị cá o Đà m Quang L 08 tháng tù , cho hưở ng á n treo . Thờ i gian thử thá ch là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm . Giao bị cáo Đà m Quang L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1 khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạ t bị cá o Khương Văn D 08 tháng tù , cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Khương Văn D cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 08 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m i, điể m s khoả n 1 Điề u 51; Điề u 17; Điề u 58; Điề u 65 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 10 tháng tù, cho hưở ng á n treo. Thờ i gian thử thá ch là 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm . Giao bị cáo Đặng Văn L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 38 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân Đ 09 tháng tù, đượ c trừ thờ i hạ n tạ m giữ 09 ngày (từ ngày 13/11/2020 đến ngày 22/11/2020), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấ p hà nh hì nh phạ t tù củ a bả n á n.
- Căn cứ khoả n 1 Điề u 321; điể m s khoả n 1, khoản 2 Điề u 51; Điề u 38 Bộ luậ t hì nh sự . Xử phạ t bị cáo Triệu Tài N 09 tháng tù, đượ c trừ thờ i hạ n tạ m giữ 08 ngày (từ ngà y 14/11/2020 đến ngày 22/11/2020), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấ p hà nh hì nh phạ t tù củ a bả n á n.
2.2. Hình phạt bổ sung : Căn cứ khoản 2 Điề u 35; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
- Phạt tiền bị cáo Phạm Văn T 13.000.000 đồ ng.
- Phạt tiền bị cáo Lý Văn V 12.000.000 đồ ng.
- Phạt tiền bị cáo Quan Thanh T 12.000.000 đồ ng.
- Phạt tiền bị cáo Nông Văn Đ 10.000.000 đồ ng.
- Phạt tiền bị cáo Đàm Quang L 10.000.000 đồ ng.
Miễ n hình phạ t bổ sung là hì nh phạ t tiề n đố i vớ i cá c bị cá o Khương Văn D, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L, Triệ u Tà i N, Vũ Văn H.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu t iêu hủ y gồ m: 01 (một) chiếc chiếu nhựa màu xanh vàng trắ ng đã rách cũ, 01 chiếc bát sứ màu trắng, có hình họa tiết bông hoa, đá y có ghi “made in Việ t Nam” ; 01(một) chiếc đĩa sứ có hoạ tiết bông hoa màu đỏ, xanh có ghi chữ MADE IN CHIN”; 04 (bốn) quân vị hình tròn, mộ t mặ t mà u trắ ng , mộ t mặ t mà u vàng (đượ c cắ t ra từ vỏ bao thuố c lá Thăng Long ); 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại cán bọc nhựa màu đen đều là các công cụ đượ c cá c bị cá o sử dụ ng và o việ c phạm tội và 01 (mộ t) chiế c hộ p giấ y, bên ngoà i có chữ GEZO, chiế c hộ p đượ c dá n bằ ng giấ y niêm phong có chữ ký xá c nhậ n và đó ng dấ u đỏ củ a cơ quan cả nh sá t điề u tra công an huyệ n Chợ Đồ n không có giá trị.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng bàn phím, vỏ màu xanh; 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97F4-8620 nhãn hiệu Honda Wave Alpha, số máy: HCO9E-0680412, số khung: RLHHC09093Y680127, màu sơn xanh đen; 01 (một) chiếc ví màu đen bên trong có chứa: 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số: 095027141 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số: 060025000043 mang tên Phạm Văn T; 01 (một) đăng ký mô tô, xe máy số: 0002219 mang tên Phạm Xuân C, đăng ký của chiếc xe biển kiểm soát: 97F2 – 3422;
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn V 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-857.95 nhãn hiệu Honda Wave Alpha, số máy: JA39E-0990065, số khung: RLHJA3914KY132973, màu sơn đỏ đen nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh án.
- Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0965480929 nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.
- Trả lại cho bị cáo Quan Thanh T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o thi hà nh á n.
- Trả lại cho bị cáo Đàm Quang L 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-861.05, nhãn hiệu Honda Blade, số máy: JA36E-0736768, số khung: RLHGA364GKI004801, màu sơn xanh đen nhưng cầ n tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Khương Văn D 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97F3-6041, nhãn hiệu WIN, số máy: C150FMG-2*000124831*, số khung: VLKDCG012LK*124831*, màu sơn xanh đen.
- Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân Đ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 vỏ màu hồng đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, dạng bàn phím, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim viettel số thuê bao 0964857681.
- Trả lại cho chị Vũ Thị L trú tại thôn H, xã B, huyệ n C , tỉnh Bắc Kạn 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97B1- 999.93, nhãn hiệu Honda Wave RSX, số máy: JA52E-0069229, số khung: RLHJA3844KY031248, màu sơn đỏ đen.
- Trả lại cho bị cáo Triệu Tài N 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-98504, nhãn hiệu Yamaha Exciter, số máy: G3D4E-562271, số khung: RLCUG0610HY538748, màu sơn xanh đen.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng trắng đã qua s ử dụng; 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-31843, nhãn hiệu Yamaha Sirius, số máy: 5C6K029613, số khung: RLCS5C6KODY029600, màu sơn vàng đen.
- Trả lại cho bị cáo Đặng Văn L 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung mà u đen, đã qua sử dụng; 01 (Một) xe môtô biển kiểm soát 97B1-774.20, nhãn hiệu Honda Wave RSX, số máy: GC43E-6387063, số khung: RLHGC432XBY436956, màu sơn đen trắng; 01 (một) chiếc ví màu đen, bên trong có chứa: 01 (một) thẻ ATM số: 9704180131166670 tên Đặng Văn L do Ngân hàng Bidv phát hành; 01 (một) thẻ ATM số: 9704490420306105 tên Đặng Văn L do Ngân hàng LienVietpostbank phát hành; 01 (một) chứng minh nhân dân số: 095231021 mang tên Đặng Văn L.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
Đối với tổng số tiề n 55.800.000 đồng (Năm mươi năm triệu tám trăm nghìn đồng) chứ a trong 06 phong bì ký hiệu từ A1 đến A 6) đượ c niêm phon g trong 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu K1, trong đó :
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền dùng vào việc phạm tội là
14.300.000 đồ ng (gồ m 8.700.000 đồ ng có trong phong bì ký hiệ u A1, 4.500.000 có trong phong bì ký hiệ u A 4, 600.000 đồ ng có trong phong bì ký hiệ u A 5, 500.000 đồ ng có trong phong bì ký hiệ u A2.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T số tiề n 27.000.000 đồ ng có trong phong bì ký hiệ u A6 nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o việ c thi hà nh á n.
- Trả lại cho bị cáo Nông Văn Đ số tiề n 7.000.000 đồ ng có trong phong bì ký hiệ u A2 nhưng cầ n tạ m giữ để đả m bả o việ c thi hà nh á n.
- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H số tiề n 7.500.000 đồ ng có trong phong bì ký hiệ u A3.
- Tịch thu tiêu hủ y 01 vỏ phong bì ký hiệu K1 trên mặ t niêm phong có ba chữ ký và 3 dấ u trò n mà u đỏ củ a Kho bạ c nhà nướ c huyệ n Chợ Đồ n và 06 vỏ phong bì ký hiệu từ A1 đến A6.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Văn T, Lý Văn V, Đàm Quang L, Nông Văn Đ, Quan Thanh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễ n á n phí hì nh sự sơ thẩ m cho các bị cáo Khương Văn D, Trịnh Xuân Đ, Đặng Văn L , Triệ u Tà i N , Vũ Văn H.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
5. Về quyề n khá ng cá o: Các bị cáo, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan có mặt tạ i phiên tò a có quy ền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặ t tạ i phiên tò a có quyề n khá ng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặ c ngà y bả n á n đượ c niêm yế t. Nơi nhậ n:
| - VKSND huyện Chợ Đồn; - CA huyện Chợ Đồn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - THADS huyện Chợ Đồn; - TAND tỉnh Bắc Kạn; - Các bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Văn Mẫn |