- Tranh chấp gì? án hình sự — "LVD phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo LVD phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 23/2021/HS-ST Ngày 24-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lù Văn Mẳn.
Ông Lò Văn Khẹt.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
LVD, sinh ngày 11/10/1976, tại CH, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản PY, xã CH, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LVS và bà LTL đều đã chết; có vợ là HTT, sinh năm 1983, có 02 con sinh năm 2001 nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2021; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phương Vũ, Luật Sư - Trợ giúp viên pháp lý, tỉnh SL. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo LVD bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 17/8/2021, tại nhà thuộc bản PY, xã CH, huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện và bắt quả tang LVD, sinh ngày 11/10/1976 đang có hành vi đốt hít trái phép chất ma túy và cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do LVD tự giác lấy trong túi áo bên trái đang mặc giao nộp:
01 túi nilon màu trắng có viền đỏ, bên trong có chứa 11 gói gồm: 05 gói bên ngoài được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ bên trong đều có chứa chất bột màu trắng; 01 gói bên ngoài bằng nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng, LVD khai là Heroine; 05 gói bên ngoài được gói bằng nilon màu trắng bên trong mỗi gói có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt các viên có chữ WY, LVD khai là hồng phiến cất giữ nhằm mục đích để sử dụng;
01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đều đã qua sử dụng;
Ngày 17/8/2021 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
01 gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt các viên có chữ WY, có khối lượng 0,11 gam lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D1;
01 gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt các viên có chữ WY, có khối lượng 0,08 gam lấy 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D2;
01 gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt các viên có chữ WY, có khối lượng 0,11 gam lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D3;
01 gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt các viên có chữ WY, có khối lượng 0,10 gam lấy 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D4;
01 gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén màu hồng, trên mặt các viên có chữ WY, có khối lượng 0,11 gam lấy 0,11 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D5;
01 gói bên ngoài bằng nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng, LVD khai là Heroine có khối lượng 0,14 gam lấy 0,14 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D6;
05 gói bên ngoài được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ bên trong đều có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,29 gam lấy 0,29 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D7.
Cơ quan Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 1430/KLGĐ ngày 23/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL, kết luận: Mẫu ký hiệu D1, đến D5 là chất ma túy,
2
loại chất Methamphetamine, khối lượng giám định là 0,51 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,51 gam Methamphetamine; Mẫu ký hiệu D6, D7 là chất ma túy, loại chất Heroine, khối lượng giám định là 0,43 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,43 gam Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo LVD không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra LVD khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 16/8/2021 LVD ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc thái không biết tên và địa chỉ bị hỏng xe, qua trao đổi người đàn ông nói muốn đổi ma túy lấy tiền và xăng xe. Hai bên nhất trí LVD đổ cho 03 chai xăng và đưa cho người đàn ông 100.000, đồng. Người đàn ông đưa cho LVD 05 gói bên ngoài được gói bằng nilon màu trắng bên trong mỗi gói có chứa 01 viên nén màu hồng và 01 cục Heroine. Sau khi có ma túy LVD chia nhỏ số Heroine ra thành 06 gói để sử dụng dần. LVD lấy một ít Heroine chộn với một ít hồng phiến đang sử dụng (đốt hít), số ma túy còn lại cất giấu trong túi áo bên trái, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy LVD khai đổi xăng và tiền của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVD.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVD đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 87/CT-VKS-ML ngày 19 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo LVD về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo LVD phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt LVD từ 22 đến 26 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ:
01 túi nilon màu trắng có viền đỏ; 05 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 vỏ phong bì niêm phong cũ;
01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đều đã qua sử dụng (đều được niêm phong).
3
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà bị cáo LVD thừa nhận: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 17/8/2021, tại nhà thuộc bản PY, xã CH, huyện ML, tỉnh SL đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 06 gói Heroine có khối lượng 0,43 gam và 0,51 gam Methamphetaminne, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Do LVD cất giữ hai chất ma túy, cần căn cứ Điều 4 của Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, để tính tổng khối lượng của hai chất như sau:
Số Methamphetamine có khối lượng 0,51 gam + số Heroine có khối lượng 0,43 gam = 0,94 gam ma túy, nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: LVD đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép chất ma túy để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
4
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ; 05 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 vỏ phong bì niêm phong cũ; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đều đã qua sử dụng (đều được niêm phong).
Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai đổi xăng và tiền của một người đàn ông dân tộc thái không biết tên, địa chỉ. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của LVD, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo LVD phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo LVD 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 17/8/2021.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ:
01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng (được niêm phong theo Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 17/8/2021);
5
01 túi nilon màu trắng có viền đỏ; 05 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 05 mảnh giấy trắng có dòng kẻ; 01 vỏ phong bì niêm phong cũ (được niêm phong).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án.
Bị cáo LVD phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/12/2021.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh SL; - Sở tư pháp tỉnh SL; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - THAHS; - Chi cục THA dân sự huyện ML; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu: Hồ sơ, án văn. 6 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |