vanban.org

Bản án 23/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 23/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được bản án và quyết định thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giam trước từ ngày 01/02/2021 đến ngày 07/02/2021 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 23/2021/HS-ST
Ngày: 04/5/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt L - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 16/2021/TLST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 04 năm 2021 đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; tại: huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp Long Phước, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Te (đã chết) và bà Đinh Thị Hai (đã chết); có vợ là Nguyễn Trần Diễm Th và 02 con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2000); Anh chị em ruột là 10 người.

Tiền sự: không; tiền án: không, nhân thân chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt giam từ ngày 01/2/2021 đến ngày 07/2/2021 bị cáo được trả tự do. Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Nguyễn Trần Diễm T, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Long Hòa 2, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Huỳnh Thanh L, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Long Phước, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Trần Văn M, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Long Phước, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

4/ Nguyễn Trần Diễm Th, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Long Phước, xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thấy việc bán số đề và thầu số đề (số đầu, số đuôi và bao lô) có thu nhập cao nên từ tháng 01 năm 2021 bị cáo Nguyễn Văn T bắt đầu bán số đề cho nhiều người, hình thức bán số đề là người mua số đề trực tiếp gặp bị cáo mua hoặc nhắn tin, gọi điện thoại trực tiếp vào số máy điện thoại của bị cáo để mua số đề và bị cáo ghi âm lại. Sau khi có kết quả xổ số nếu người mua trúng hoặc không trúng số đề sẽ trực tiếp đến gặp bị cáo để nhận tiền và trả tiền mua số. Hình thức ăn thua là 1 ăn 70 (số đầu, số đuôi và bao lô 02 chữ số) và 1 ăn 600 (bao lô 03 chữ số). Đến khoảng 16 giờ ngày 01/02/2021, bị cáo Nguyễn Văn T đang sao chép các con số đề vừa bán cho người Tên Nhí (không rõ họ tên và địa chỉ) từ bàn máy may ra phơi đề tại nhà của bà Trần Thị Thảo là mẹ vợ T thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít bắt quả tang

Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:

- 01 (một) phơi đề đánh số thứ tự (1).

- 01 (một) cây viết bích màu xanh.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh đen, bên trong có sim Mobifone, số thuê bao: 0932985737 (trong máy có chứa nội dung liên quan đến mua, bán số đề) của bị cáo Nguyễn Văn T.

- Tiền Việt Nam đồng: 6.500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn T.

Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít tiếp tục thu giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen đã qua sử dụng, bên trong có sim Mobifone, số thuê bao 0703693225 của Nguyễn Trần Diễm T.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng M được vào ngày 01/02/2021 bị cáo Nguyễn Văn T đã bán số đề cho những người cụ thể như sau:

1/ Tên Nhí (không rõ họ tên và địa chỉ) bán vé số ở khu vực chợ xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, trực tiếp đến nhà gặp bị cáo T mua số đề (số đầu và số đuôi), qua đài Đồng Tháp với số tiền: 294.000đ (Hai trăm chín mươi bốn ngàn đồng) và được bị cáo T ghi vào bàn máy may sao đó sao chép ra phơi đề .

2/ Nguyễn Trần Diễm T dùng điện thoại di động có số thuê bao 0703693225 nhắn tin qua số thuê bao 0932985737 của bị cáo T để mua số đề (số đầu, số đuôi và bao lô) qua các đài TP. Hồ Chí M, Đồng Tháp và Cà Mau, với số tiền: 3.130.000đ (Ba triệu một trăm ba mươi nghìn đồng).

3/ Huỳnh Thanh L dùng điện thoại di động có số thuê bao 0908054254 gọi điện thoại trực tiếp qua số thuê bao 0932985737 của bị cáo T để mua số đề (bao lô) và được ghi âm lại, qua các đài TP. Hồ Chí M, Đồng Tháp và Cà Mau, với số tiền: 3.600.000đ (Ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

4/ Trần Văn M dùng điện thoại di động có số thuê bao 0942500499 gọi điện thoại trực tiếp qua số thuê bao 0932985737 của bị cáo T để mua số đề (bao lô) và được ghi âm lại, qua đài Đồng Tháp, với số tiền: 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng).

Do thời điểm bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn T, chưa có kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh: Cà Mau, Đồng Tháp và Thành Phố Hồ Chí M nên không xem xét đối chiếu với kết quả xổ số.

Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Văn T đã bán số đề vào ngày 01/02/2021 là 7.204.000đ (Bảy triệu hai trăm lẽ bốn nghìn đồng)

Ngày 07/02/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

* Về tang vật và đồ vật thu giữ:

- 01 (một) phơi đề đánh số thứ tự (1) là phơi đề bị cáo T dùng ghi các con số đề bán cho Tên Nhí (không rõ họ tên và địa chỉ) và 01 (một) cây viết bích màu xanh bị cáo T dùng để sao chép số đề. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng M là tài sản của Nguyễn Văn T đây là tang vật và công cụ dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh đen, bên trong có sim Mobifone, số thuê bao: 0932985737 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen đã qua sử dụng, bên trong có sim Mobifone, số thuê bao 0703693225. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng M là tài sản của Nguyễn Văn T và Nguyễn Trần Diễm T đây là phương tiện dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Tiền Việt Nam đồng: 6.500.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng M là tài sản của chị Nguyễn Trần Diễm Th không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho chị Th xong.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận bắt đầu bán số đề vào khoảng tháng 01 năm 2021 và bán số đề không liên tục, đến ngày 01/02/2021 thì bị bắt quả tang. Hình thức bán số đề là người mua số đề trực tiếp đến nhà của bị cáo mua hay nhắn tin, gọi điện thoại trực tiếp vào số máy điện thoại của bị cáo để mua số đề và được ghi âm lại. Trong thời gian bán số đề của người khác bị cáo không có sử dụng tiền để làm vốn trả thưởng cho người mua, mà sử dụng số tiền người mua số đề để trả thưởng, khi bị phát hiện và mời làm việc thì bị cáo bị thua lỗ không có thu lợi bất chính từ việc bán số đề.

Vào ngày 02/02/2021 bị cáo Nguyễn Văn T nộp lại số tiền 294.000 đồng, Nguyễn Trần Diễm T nộp lại số tiền 3.130.000 đồng, Huỳnh Thanh L nộp lại số tiền 3.600.000 đồng và Trần Văn M nộp lại số tiền 180.000 đồng, tổng cộng số tiền 7.204.000 đồng. Đây là tiền dùng đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Đối với các đối tượng Nguyễn Trần Diễm T, Huỳnh Thanh L và Trần Văn M hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với các đối tượng Tên Nhí (không rõ họ tên và địa chỉ). Hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ tiếp tục xử lý sau.

Tại bản cáo T số 23/CT-VKS.HMT, ngày 07 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo T phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo T và đề nghị áp dụng Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung cho bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng. Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp lục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) phơi đề đánh số thứ tự (1). Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây viết bích màu xanh bị cáo T dùng để sao chép số đề và sim số thuê bao: 0932985737, sim số thuê bao 0703693225. Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen đã qua sử dụng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc số tiền: 7.204.000đ (Bảy triệu hai trăm lẻ bốn ngàn đồng).

Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, chứng M được các hành vi, quyết định tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận: Vào tháng 01 năm 2021 T bắt đầu đánh bạc, dưới hình thức thầu số đề và ghi bán số đề cho nhiều người không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể. Đến ngày 01/02/2021 Nguyễn Văn T bán số đề cho Nguyễn Trần Diễm T, Huỳnh Thanh L, Trần Văn M và người Tên Nhí dựa vào kết quả xổ số các đài TP. Hồ Chí M, Đồng Tháp và Cà Mau, với tổng số tiền đánh bạc là 7.204.000đ (Bảy triệu hai trăm lẽ bốn nghìn đồng).

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nội dung bản cáo T và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với bản kết luận điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã cấu thành nên tội “ Đánh bạc” . Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ: Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, bị cáo không tích cực lao động để có thu nhập hợp pháp mà dùng hình thức “Đánh bạc” để tước đoạt tiền của người khác một cách trái pháp luật. Số đề là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp của …vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này không để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ và tài sản của công dân,…cần lên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Do đó xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có đủ khả năng tự cải tạo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xét.

Về vật chứng : Áp dụng Điều 47 Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp lục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) phơi đề đánh số thứ tự (1). Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây viết bích màu xanh bị cáo T dùng để sao chép số đề và sim số thuê bao: 0932985737, sim số thuê bao 0703693225. Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen đã qua sử dụng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc số tiền: 7.204.000đ (Bảy triệu hai trăm lẻ bốn ngàn đồng).

Xét, đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được bản án và quyết định thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giam trước từ ngày 01/02/2021 đến ngày 07/02/2021 tương đương 21 ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân Long Mỹ, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với gia đình bị cáo giám sát và giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tiếp lục lưu giữ hồ sơ vụ án 01 (một) phơi đề đánh số thứ tự (1).

-Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây viết bích màu xanh bị cáo T dùng để sao chép số đề và sim số thuê bao: 0932985737, sim số thuê bao 0703693225.

-Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30 màu xanh đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng đen đã qua sử dụng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc số tiền: 7.204.000đ (Bảy triệu hai trăm lẻ bốn ngàn đồng).(Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 4 năm 2021 và biên lai thu tiền số 0003837 ngày 8 tháng 4 năm 2021).

3. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ