vanban.org

Bản án 23/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án, ngày 05/11/2021. Giao bị cáo Trần Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Ngọc H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HS-ST
Ngày 05– 11 – 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh, bà Đinh Trần Thị Bích Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Hoa– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2021/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1993 tại huyện H – tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: thôn N, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc H1 (sinh năm 1970) và con bà Trần Thị M (sinh năm 1968); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/9/2019, bị Phòng Cảnh sát môi trường – Công an tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” với số tiền 10.000.000 đồng, đã nộp phạt ngày 12/9/2019 và được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/7/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Hồ Viết S (đã chết)

- Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Bà Xa Thị R, sinh năm 1966

Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

+ Ông Hồ Viết L, sinh năm 1964 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của ông Hồ Viết L: Bà Xa Thị R, sinh năm 1966

Đại diện uỷ quyền của bà Xa Thị R: chị Hồ Thị Thuỳ Tr, sinh năm 1989 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Cháu Trần Kim Th, sinh ngày 13/7/2009 (có mặt)

Đại diện hợp pháp của cháu Th: anh Hồ Thanh K, sinh năm 1984 (có đơn xin giải quyết vắng mặt); chị Hồ Thị Thuỳ Tr, sinh năm 1989 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Th: Ông Ngô Đình Kh– trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk (có mặt)

+ Bà Xa Thị R, sinh năm 1966

Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện theo uỷ quyền: chị Hồ Thị Thuỳ Tr, sinh năm 1989 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

+ Bà Trần Thị D, sinh năm 1969 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã H, Huyện K, tỉnh Đắk Lắk

- Ngƣời làm chứng: Bà Đinh Thị Lệ K, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 29/5/2021, Trần Ngọc H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47C – 171.91, chở theo chị Trần Thị D là chủ xe, đi từ xã H đến xã K, sau đó đi theo hướng từ xã K đi thành phố B để lấy rau. Khi đến thôn B, xã H, huyện K thì thấy phía trước có một xe ô tô tải (không rõ biển số) đi cùng chiều, H nhiều lần xin vượt nhưng xe ô tô tải không nhường đường. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, khi cả hai xe đi đến Km 9+200 tỉnh lộ 12 thuộc thôn B, xã H thì xe ô tô tải cho vượt nên H điều khiển xe vượt bên trái xe ô tô tải, vì bực mình do suốt đoạn đường người điều khiển xe ô tô tải không cho vượt nên khi xe H vượt lên xe ô tô tải thì H nhìn và chỉ tay về phía lái xe ô tô tải để trách móc, do không chú ý quan sát nên xe H tông vào xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 đi ngược chiều do Hồ Viết S điều khiển chở theo Trần Kim Th ngồi sau làm cho S và Th ngã xuống đường. H dừng xe cách vị trí gây tai nạn khoảng 50m và xuống xe thì thấy S và Th bị thương làm bất tỉnh nên H đã đưa cả hai đi cấp cứu. Hậu quả S tử vong tại bệnh viện còn Th được điều trị tại bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 9 + 200 tỉnh lộ12 thuộc địa phận thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là đoạn đường thằng, mặt đường trải bê tông bằng phẳng rộng 5,45m, hai bên có lề đường đất rộng 1,5m, đoạn đường không có vật che khuất tầm nhìn, không có biển báo hiệu đường bộ, không có vạch sơn kẻ đường.

Vị trí phƣơng tiện:

Lấy mép đường bên trái theo hướng từ xã H đi xã E làm mép đường chuẩn và trụ điện số 47KBO/105 (ký hiệu: X) cách mép đường chuẩn là 11m, định vị các số đo tại hiện trường.

- Xe ô tô tải biển kiểm soát 47C – 171.91 (ký hiệu 1): đỗ ở phần đường bên phải theo chiều di chuyển. Đầu xe hướng về xã E, đuôi xe hướng về xã H, xe đang nổ máy ở trạng thái số N, mở đèn cảnh báo và đèn chiếu sáng. Đo từ tâm trục trước bên trái xe (1) vào mép đường chuẩn là 4m; đo từ tâm trục sau bên trái xe (1) vào mép đường chuẩn là 3,9m; đo từ tâm trục sau bên trái xe (1) đến điểm (X) là 58,5m.

- Xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 (ký hiệu 2): xe (2) nằm ngã nghiêng bên phải trên lề đất gần mép đường chuẩn; đầu xe hướng về xã H, đuôi xe hướng về xã E. Đo từ tâm trục trước của xe (2) vào mép đường chuẩn là 1,7m; đo từ tâm trục sau của xe (2) vào mép đường chuẩn là 1,6m; đo từ tâm trục sau của xe (2) đến điểm (X) là 10,8m; đo từ tâm trục sau của xe (2) đến tâm trục sau của xe (1) là 65,5m.

Vết cày ( ký hiệu 3): có kích thước là 0,13m x 0,07m, rộng 1,15cm, sâu 0,3cm gồm nhiều vết cày ngắn, có chiều hướng từ xã E đi xã H. Điểm cuối vết cày kết thúc ngay dưới đầu cần đạp khởi động xe (2); đo từ đầu mép cày (3) vào mép đường chuẩn là 1,3m; đo từ cuối vết cày (3) vào mép đường chuẩn là 1,4m.

Vết cày (ký hiệu 4):có kích thước dài 1m, rộng 1,1cm, sâu 0,2cm; có chiều hướng từ xã E đi xã H; điểm cuối vết cày kết thúc ngay dưới đuôi ốp bảo vệ ống giảm thanh xe (2). Đo từ đầu vết cày (4) vào mép đường chuẩn là 0,5m; đo từ cuối vết cày (4) vào mép đường chuẩn là 1m; đo từ đầu vết cày (4) đến đầu vết cày (3) là 0,8m.

Vết cày (ký hiệu 5): có kích thước dài 1,4m, rộng 1cm, sâu 0,2cm; gồm nhiều vết cày ngắn tạo thành, có chiều hướng từ xã E đi xã H; điểm cuối vết cày kết thúc ngay trên mép đường chuẩn. Đo từ đầu vết cày (5) vào mép đường chuẩn là 0,5m; đo từ đầu vết cày (5) đến đo từ đầu vết cày(4) là 1,6m.

Vết màu đỏ (nghi là máu, ký hiệu 6):Vết màu đỏ không rõ hình trên lề đường gần mép đường chuẩn, có kích thước 1,05m x 0,5m, đo từ tâm vết (6) vào mép đường chuẩn là 1m; đo từ tâm vết (6) đến đầu vết cày (5) là 1,3m.

Vết màu đỏ (nghi là máu, ký hiệu 7):Vết màu đỏ không rõ hình trên lề đường gần mép đường chuẩn, có kích thước 2,5m x 0,7m, đo từ tâm vết (7) vào mép đường chuẩn là 2,7m; đo từ tâm vết (7) đến đầu vết cày (6) là 2,2m.

Vết cày (ký hiệu 8):có kích thước dài 1,1m, rộng 1,1cm, sâu 0,15cm; vết (8) nằm song song với mép đường chuẩn, có chiều hướng xã E đi xã H; đo từ đầu vết cày (8) vào mép đường chuẩn là 0,4m; đo từ cuối vết cày (4) vào mép đường chuẩn là 0,3m. đo từ cuối vết cày (8) đến đầu vết cày (5) là 6,3m.

Vết chà (ký hiệu 9): có kích thước 3m x 0,4m; vết (9) nằm dưới lề đường gần mép đường chuẩn có chiều hướng từ xã H đi xã E; đo từ đầu vết chà (9) vào mép đường chuẩn là 0,15m; đo từ cuối vết chà (9) vào mép đường chuẩn là 0,5m; đo từ đầu vết chà (9) đến đầu vết cày (8) là 1,7m.

Ốp nhựa gương chiếu hậu xe ô tô(ký hiệu 10): nằm trên lề đất gần mép đường chuẩn; cách mép đường chuẩn là 1m; cách cuối vết chà (9) là 4,9m.

Miếng lót bậc để chân xe ô tô (ký hiệu 11): nằm trên lề đất gần mép đường chuẩn; cách mép đường chuẩn là 1m; cách (10) là 15,5m.

Vị trí điểm đụng (ký hiệu 12): nằm trên mép đường bên trái theo hướng xã H đi xã E, cách mép đường chuẩn là 0,3m; cách điểm (X) là 0,45m.

Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện thể hiện:

- Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát 47N1 – 081.84: Hộp bảo vệ đèn chiếu sáng và xi nhan hai bên phía trước bị vỡ hoàn toàn, kích thước 35cm x 16cm; trục cổ xe bị gãy rời; mặt nạ phía trước vỡ hoàn toàn; yếm chắn gió phía trước bên trái vỡ hoàn toàn kích thước 50cm x 10cm; cần số xe bị cong biến dạng chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kích thước 3cm; gác để chân phía trước bên trái xe bị cong biến dạng chiều hướng từ trước về sau, kích thước 10cm; Ốp nhựa phần thân xe bên trái bị vỡ hoàn toàn; mặt ngoài chắn bùn đuôi xe có vết màu đỏ (nghi là máu) chiều hướng từ trước về sau, kích thước 10cm x 4cm.

- Xe ô tô tải nhãn hiệu DOTHANH biển kiểm soát 47C – 171.91: kính chắn gió phía trước xe có vết nứt, kích thước 67cm x 35cm; chắn gió phía cách cửa bên tài bị vỡ hoàn toàn; gương chiếu hậu bên tài bị vỡ hoàn toàn; ốp nhựa chân gương chiếu hậu bên tài có vết trầy xước kích thước 10cm x 3cm; cọng gương chiếu hậu bằng kim loại bên tài bị cong biến dạng chiều từ trên xuống dưới, kích thước 20cm x 7cm; ốp mặt nạ kim loại phía trước bên tài có vết lõm trầy xước hướng ngoài vào trong kích thước 33cm x 5cm, điểm cao nhất so với mặt đất là 1,1m, điểm thấp nhất so với mặt đất là 82cm; đèn chiếu sáng phía trước bên tài bị vỡ, kích thước 25cm x 20cm; hộp bảo vệ đèn xi nhan phía trước bên tài bị vỡ hoàn toàn, kích thước 20cm x 10cm; vết màu đỏ loang (nghi là máu) từ đèn xi nhan bên tài đến cánh cửa xe bên tài có kích thước 40cm x 15cm, điểm cao nhất so với mặt đất là 70cm, điểm thấp nhất so với mặt đất là 57cm; vết móp ở cánh cửa xe bên tài có hướng từ ngoài vào trong, kích thước 12cm x 2cm, điểm cao nhất so với mặt đất là 70cm, điểm thấp nhất so với mặt đất là 55cm.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐ ngày 08/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 là 1.145.000 đồng;

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐ ngày 08/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô tải biển kiểm soát 47C – 171.91 là 7.900.000 đồng.

Khám nghiệm tử thi cho thấy:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 223/TTh-TTPY ngày 29/6/2021của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: nguyên nhân tử vong của Hồ Viết S là do ngưng hô hấp, tuần hoàn do chấn thương không hồi phục do chấn thương hàm mặt nặng/chấn thương sọ não/nhiều chấn thương do tai nạn giao thông;

Trần Kim Th (thông qua đại diện) có đơn từ chối giám định. Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 768/GĐHS ngày 02/7/2021của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của Trần Kim Th (qua hồ sơ) là 23%.

Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS – HS ngày 07/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai tại phiên toà là phù hợp nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội: “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 04 đến 05 năm.

* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông đã trả lại xe ô tô tải biển kiểm soát 47C – 171.91 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thị D và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Xa Thị R.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Ngọc H cùng chủ phương tiện là bà Trần Thị D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Hồ Viết S 178.000.000 triệu đồng (trong đó H bồi thường 148.000.000 đồng, bà D bồi thường 30.000.000 đồng), bồi thường cho Trần Kim Th 40.000.000 đồng (trong đó H bồi thường 30.000.000 đồng, bà D bồi thường 10.000.000 đồng). Đại diện bị hại Hồ Viết S và Trần Kim Th không có yêu cầu gì thêm, đồng thời tự nguyện làm đơn bãi nãi cho bị cáo.

Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Kim Th: Đồng ý với tội danh mà viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình cháu Th, gia đình cũng đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo và không có ý kiến, yêu cầu gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Bông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:

Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 29/5/2021, tại đoạn Km 9 + 200 tỉnh lộ 12 thuộc thôn B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Trần Ngọc H (có giấy phép lái xe hạng D), điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47C – 171.91 chở theo bà Trần Thị D đi theo hướng xã H đến thành phố B để lấy rau, khi vượt xe ô tô đi cùng chiều do không chú ý quan sát, vượt xe khi đang có xe chạy ngược chiều nên xe ô tô do Trần Ngọc H điều khiển đã tông vào xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 do Hồ Viết S điều khiển chạy ngược chiều chở theo Trần Kim Th ngồi sau. Hậu quả làm Hồ Viết S chết khi cấp cứu tại bệnh viện.

Do vậy, hành vi của bị cáo Trần Ngọc H đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 260 Bộ Luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a, Làm chết người;

Ngoài ra, bị cáo còn làm bị thương Trần Kim Th, là người ngồi sau xe do Hồ Kim S điều khiển, với tỷ lệ thương tật là 23%.

Bị cáo hoàn toàn đủ khả năng nhận thức về pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo có Giấy phép lái xe hạng D, bị cáo phải hiểu rõ các quy định của pháp luật để bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, tuy nhiên khi điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 47C – 171.9 vượt xe ô tô đi cùng chiều, bị cáo không chú ý quan sát nên đã tông vào xe mô tô do cháu Hồ Viết S điều khiển xe đi ngược chiều chở theo cháu Trần Kim Th, hậu quả là cháu Hồ Viết S chết khi cấp cứu tại bệnh viện. Hành vi của bị cáo vi phạm quy tắc lái xe an toàn quy định tại khoản 2 Điều14 Luật giao thông đường bộ và được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Xét về nhân thân, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 04/9/2019, bị Phòng Cảnh sát môi trường – Công an tỉnh Đắk Lắk xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, đã nộp phạt xong và được xem như chưa xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động đưa nạn nhân đi cấp cứu tại bệnh viện sau đó về tại Công an huyện Krông Bông để đầu thú, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã nhanh chóng khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại Hồ Viết S số tiền 148.000.000 đồng, bồi thường cho Trần Kim Th với số tiền 30.000.000 đồng, đại diện bị hại tự nguyện bãi nại cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Cần công nhận việc bị cáo Trần Ngọc H cùng chủ phương tiện là bà Trần Thị D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Hồ Viết S 178.000.000 đồng (trong đó H bồi thường 148.000.000 đồng, bà D bồi thường 30.000.000 đồng), bồi thường cho Trần Kim Th 40.000.000 đồng (trong đó H bồi thường 30.000.000 đồng, bà D bồi thường 10.000.000 đồng). Đại diện bị hại Hồ Viết S và Trần Kim Th không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra để giải quyết.

Xử lý vật chứng: Xét thấy việc Hồ Viết S tự ý lấy xe mô tô của bà Xa Thị R tham gia giao thông và bị tai nạn thì bà Rớt không biết. Việc bà Trần Thị D thuê Trần Ngọc H lái xe khi có giấy phép lái xe, đủ điều kiện để lái xe nên việc giao xe cho H điều khiển là đúng quy định pháp luật. Do đó cần công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 47C – 171.91 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thị D và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Xa Thị R.

Cần trả lại ngay cho bị cáo Trần Ngọc H 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Ngọc H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trần Kim Th là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc H 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án, ngày 05/11/2021.

Giao bị cáo Trần Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thựchiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy địnhtại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2.Về trách nhiệm dân sự: Công nhận việc bị cáo Trần Ngọc H cùng chủ phương tiện là bà Trần Thị D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Hồ Viết S số tiền 178.000.000 triệu đồng (trong đó H bồi thường 148.000.000 đồng, bà D bồi thường 30.000.000 đồng), bồi thường cho Trần Kim Th 40.000.000 đồng (trong đó H bồi thường 30.000.000 đồng, bà D bồi thường 10.000.000 đồng).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự,; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 47C – 171.91 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thị D và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 47N1 – 081.84 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Xa Thị R.

Sau khi kết thúc phiên tòa, trả lại ngay cho bị cáo Trần Ngọc H 01 (một) Giấy phép lái xe số 660142001518 do Sở giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 01/10/2020 mang tên Trần Ngọc H (hiện đang lưu tại hồ sơ vụ án).

4.Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bán án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ