vanban.org

Bản án 23/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 25/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

*Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân T và Lê Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

*Căn cứ: Điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Phạt: Phạm Xuân T 03(ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? *Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân T và Lê Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
`TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LA GI
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 23/2021/HS-ST
Ngày: 25/3/ 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LAGI

Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước

Các Hội Thẩm Nhân Dân: Ông Nguyễn Thanh Hoàng và bà Vũ Thị Minh Huệ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kim Đức- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở TAND thị xã La Gi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 07/2021/TLST-HS ngày 03/02/2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2021/QĐXX-ST-HS ngày 22/02/2021 và Thông báo số /2021/TB-TA đối với các bị cáo:

1/ Phạm Xuân T, sinh năm 1987 tại Bình Thuận, tên gọi khác: Út

Nơi cư trú: Khu phố 4, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 3/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Phạm X (chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1951; cư trú: Khu phố 4, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;

Bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư.

Vợ: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã La Gi, có mặt tại tòa

2/ Lê Quốc V, sinh năm 1980 tại Bình Thuận, tên gọi khác: Tôn.

Nơi cư trú: Khu phố 4, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;

Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 0/12;

- 2 -

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lê Quốc H (chết) và bà Nguyễn Thị Ả, sinh năm 1953; cư trú: Khu phố 4, phường P, thành phố P, , tỉnh Bình Thuận;

Bị cáo có 01 anh

Vợ: Trần Thị Kim Đ, sinh năm 1985; có 03 con, con lớn sinh năm 2005. Con nhỏ sinh năm 2009

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã La Gi, có mặt tại tòa

“NỘI DUNG VỤ ÁN:”

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 09/12/2020, Phạm Xuân T và Lê Quốc V rủ nhau đón xe Bus từ Phan Thiết vào La Gi để mua ma túy. Khi đến La Gi cả hai bắt xe ôm đến khu vực xóm Sình thuộc phường Bình Tân. Khi đến nơi cả hai đi vào một con hẻm gặp một người phụ nữ tên B (không rõ lai lịch) T đưa cho bà Ba 1.600.000 đồng và V đưa 500.000 đồng. Bà B mang tiền đi khoảng 05 phút thì quay lại đưa cho T 02 gói ma túy và V 01 gói ma túy. Sau khi mua xong, T giấu ma túy vào khẩu trang đeo trên mặt còn V giấu vào trong bao thuốc lá có nhãn SCOTT rồi cả hai bắt xe ra khu vực đường Lê Lợi thuộc khu phố 2, phường Phước Hội để đón xe về lại Phan Thiết. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang đứng chờ xe thì Thành và Vinh bị lực lượng Công an phường Phước Hội bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm có: Thu trong khẩu trang màu hồng có hoa màu trắng của Thành đang đeo trên mặt 01 gói nylon màu xanh được hàn kín, kích thước 2,5cm x 2cm bên trong chứa chất dạng rắn màu trắng và 01 gói nylon màu trắng được hàn kín, kích thước 2cm x 1,5cm bên trong chứa chất dạng rắn màu trắng. Thu trong túi quần phía trước bên phải của Vinh 01 kim tiêm, kích thước 2cm x 1,5cm và 01 bao thuốc lá hiệu SCOTT, bên trong có 01 gói nylon hàn kín, kích thước 2,5cm x 1,5cm chứa chất màu trắng dạng rắn.

Tại bản kết luận giám định số 1347/KLGĐ-PC09 ngày 15/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

Mẫu M1 (thu giữ của T) gửi giám định có khối lượng là 1,4064 gam là Heroine

Mẫu M2 (thu giữ của V) gửi giám định có khối lượng là 0,4287 gam là Heroine.

- 3 -

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 02/02/2021 của VKSND thị xã La Gi đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T và Lê Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS;.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã La Gi giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị các cáo như sau: Mặc dù biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Nhưng để có ma túy sử dụng, khoảng 13 giờ 30 ngày 09/12/2020 tại đường Lê Lợi, khu phố 2, phường P bị cáo Phạm Xuân T đang tàng trữ trái phép 1,4064 gam Heroine và Lê Quốc V đang tàng trữ trái phép 0,4287 gam Heroine. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý các chất ma túy của nhà nước đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương do đó VKS thị xã La Gi giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Từ phân tích trên, VKSND thị xã La Gi đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 30 đến 36 tháng tù và bị cáo Lê Quốc V từ 24 đến 30 tháng tù.

Phần vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao nhận ngày 03/02/2021 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã La Gi .

Với đối tượng tên B do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Tại phiên tòa các bị cáo đã nhận tội như cáo trạng truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong cáo trạng. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng, các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

“NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:”

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan công an thị xã LaGi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- 4 -

[2] Các bị cáo Phạm Xuân T và Lê Quốc V là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa, qua tranh tụng các bị cáo đã thừa nhận. Khoảng 13 giờ 30 ngày 09/12/2020 tại đường Lê Lợi, khu phố 2, phường P bị cáo T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,4064 gam Heroine và bị cáo V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4287 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Việc thừa nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Lời nhận tội của các bị cáo cũng phù hợp về thời gian, địa điểm, hiện trường nơi xảy ra vụ án cũng như vật chứng đã được thu giữ. Hành vi nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

[3] Việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi căn cứ vào hành vi tàng trữ 1,4064 gam Heroine của bị cáo T và 0,4287 gam Heroine của bị cáo V để truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS, đây là chứng cứ buộc tội đúng người, đúng tội nên HĐXX chấp nhận.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là một trong những hoạt chất gây nghiện, có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng. Ma túy cũng là nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn gia đình, là điều kiện dẫn đến các loại tội phạm khác. Chính vì tác hại nghiêm trọng của ma túy mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hành tàng trữ dưới mọi hình thức. Với các bị cáo, mặc dù biết được sự nghiêm cấm của pháp luật và sự lên án của xã hội nhưng vì động cơ sử dụng đã bất chấp tất cả để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; vì vậy HĐXX cần xử lý thật nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. nên HĐXX cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[7] Với vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ, HĐXX cần tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/02/2021 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã La Gi là phù hợp.

[8] Về án phí, các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

*Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân T và Lê Quốc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

*Căn cứ: Điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, BLHS 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Phạt: Phạm Xuân T 03(ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/12/2020.

- 5 -

Phạt: Lê Quốc V 02(hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/12/2020.

* Căn cứ: Điều 47 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 BLTTHS.

Tuyên: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng vụ án theo biên bản giao nhận ngày 03/02/2021 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã La Gi.

*Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ